yêu cầu phản tố

[:vi]Yêu cầu phản tố có tính thời hiệu?[:en]Statutory counterclaim[:]

[:vi]

  Yêu cầu phản tố có tính thời hiệu hay không? Luật Minh Tín cùng bạn đọc tìm hiểu và đưa ra các quan điểm về phản tố có tính thời hiệu. 

  Quá trình hành nghề thực tế, Luật Minh Tín gặp rất nhiều trường hợp liên quan đến vụ việc có bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, tại các Tòa án nhân dân (TAND) ở các địa phương khác nhau đưa ra các quan điểm khác nhau về việc có hay không áp dụng thời hiệu cho yêu cầu phản tố. Bài viết này xin đưa ra một số ví dụ và quan điểm như sau:

  Ví dụ 1: Tháng 9/2010, Công ty A ký hợp đồng thi công công trình xây dựng nhà xưởng với Công ty B. Đến tháng 4/2011, Công ty A đã thực hiện xong các nghĩa vụ của mình nhưng Công ty B chỉ mới thanh toán được gần 800 triệu đồng. Đồng thời, Công ty B đã nhận hồ sơ quyết toán, hồ sơ hoàn công (có xác nhận của đơn vị tư vấn giám sát) nhưng không ký hồ sơ mà không rõ lý do trong khi số tiền còn lại phải thanh toán theo khối lượng thi công là hơn 700 triệu đồng.

  Tháng 5/2013, Công ty B có văn bản gửi Công ty A xác nhận số tiền cần thanh toán còn lại là hơn 300 triệu đồng do Công ty A vi phạm một số nội dung hợp đồng, Công ty B chưa thống kê được thiệt hại nên thời gian qua chưa thanh toán. Nay, Công ty B đồng ý thanh toán cho Công ty A số tiền 300 triệu đồng và đề nghị hai bên thanh lý hợp đồng.

  Không đồng ý, ngày 11/5/2015, Công ty A đã khởi kiện ra TAND huyện Gia Viễn – Ninh Bình yêu cầu Công ty B phải thanh toán hơn 900 triệu đồng cả gốc lẫn lãi. Đến ngày 9/6/2015, Công ty A đã nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu của tòa. Phía Công ty B cũng có yêu cầu phản tố nhưng tòa không chấp nhận vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện là hai năm theo quy định. Sau đó qua thương lượng, hai công ty đã thỏa thuận được với nhau nên Công ty A rút đơn khởi kiện.

  Ví dụ 2: Tháng 9/2010, Công ty DM ký hợp đồng thuê thiết bị xây dựng với Công ty TD. Sau ngày 16/9, Công ty TD đã thực hiện xong nghĩa vụ vận chuyển hàng thuê và các nghĩa vụ khác theo đúng hợp đồng các bên đã ký. Ngày 30/6/2012, Công ty DM đã gửi bản xác nhận công nợ với số tiền thuê chỉ tính  đến 8 tháng năm 2011 và không thanh toán bất kì khoản nào cho Công ty TD.

  Ngày 15/10/2013, Công ty TD khởi kiện yêu cầu TAND quận Hoàn Kiếm giải quyết vụ việc buộc Công ty DM phải thanh toán toàn bộ tiền thuê từ tháng 9/2010 đến tháng 01/2013 với số tiền trên 1 tỷ 600 triệu đồng cả gốc lẫn lãi. Sau khi bị TAND TP. Hà Nội đã xử huỷ Bản án sơ thẩm ngày 18/11/2014 của TAND quận Hoàn Kiếm. Ngày 15/6/2015, TAND quận Hoàn Kiếm thụ lý lại vụ án. Ngày 07/4/2016, bị đơn có Đơn yêu cầu phản tố và đã được TAND quận Hoàn Kiếm nhanh chóng thụ lý và không áp dụng thời hiệu. Qua phiên xử sơ thẩm gần đây nhất, đến nay, các bên vẫn tiếp tục kháng cáo.

  Trong vụ việc thứ nhất, tòa từ chối thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn với lý do hết thời hiệu khởi kiện. Còn ở vụ việc thứ hai, toà nhanh chóng thụ lý yêu cầu phản tố mà không vướng mắc về vấn đề thời hiệu. Từ đây, một vấn đề pháp lý cần đặt ra: Có áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố hay không? Việc xác định thời hiệu đối với yêu cầu phản tố của bị đơn trong vụ án dân sự như thế nào mới đúng? Bài viết xin làm rõ các vấn đề trong phạm vi nêu trên.

yêu cầu phản tố
Yêu cầu phản tố có tính thời hiệu hay không?

1.  Khái niệm và đặc điểm của yêu cầu phản tố 

  Hệ thống thuật ngữ pháp lý Việt Nam chưa đưa ra khái niệm cụ thể về “Yêu cầu phản tố”. Tuy nhiên, với tư cách là đặc quyền thuộc về bị đơn trong vụ việc dân sự, yêu cầu phản tố  được hiểu là việc đưa ra các yêu cầu mang tính “đối ngược” với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nói cách khác chính là việc bị đơn  “kiện ngược” nguyên đơn.  Để được coi là yêu cầu phản tố thì yêu cầu đó phải đáp ứng các điều kiện của quy định pháp luật. Cụ thể:

  Thứ nhất, đối tượng mà yêu cầu phản tố của bị đơn hướng đến chỉ có thể là yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

  Thứ hai, yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau (Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015):

– Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

– Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

– Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau. Nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

  Thứ ba, thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015).

2. Có áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố hay không?

  Quan điểm thứ nhất:  Yêu cầu phản tố cũng được coi là yêu cầu khởi kiện nên cũng phải áp dụng thời hiệu khởi kiện giống như yêu cầu khởi kiện.

  Theo khoản 4 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này. Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn cũng được hiểu chính là một yêu cầu khởi kiện. Khi có phát sinh “yêu cầu phản tố”, bị đơn cũng có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như nguyên đơn. Nếu yêu cầu phản tố đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa sẽ lấy đó làm căn cứ để không chấp nhận.

  Ngoài ra, theo điều 146 BLTTDS, bị đơn cũng phải thực hiện nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố của mình.  Theo điều 202, thủ tục yêu cầu phản tố cũng được thực hiện theo thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này cũng phải tuân thủ quy định về thời hiệu khởi kiện theo Điều 184 BLTTDS.

  Quan điểm thứ hai: Yêu cầu phản tố không phải là yêu cầu khởi kiện mà chỉ được áp dụng các thủ tục của yêu cầu khởi kiện do có tính tương tự nên không được áp dụng thời hiệu.

  Khi vụ kiện được bắt đầu bằng việc khởi kiện của nguyên đơn, sau khi tòa thụ lý, bị đơn phải tìm hiểu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì để từ đó chấp nhận hay có yêu cầu phản tố. Khoản 4 Điều 200 BLTTDS đã quy định: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố bất kì thời điểm nào trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, thời hiệu khởi kiện chỉ áp dụng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chứ không áp dụng với yêu cầu phản tố của bị đơn. Tức, đây là quyền không bị hạn chế về thời hiệu của bị đơn.

  Trong các vụ kiện, bị đơn luôn ở thế bị động, phụ thuộc vào các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn có đưa ra yêu cầu khởi kiện thì bị đơn mới biết mà có yêu cầu phản tố. Nói cách khác, yêu cầu phản tố luôn luôn có sau yêu cầu khởi kiện. Khi nào có yêu cầu khởi kiện thì mới phát sinh yêu cầu phản tố. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn là dạng quyền “phái sinh” từ quyền khởi kiện của nguyên đơn.

  Mặt khác, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện, có nghĩa đây là quy định dành cho nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện của mình trong một thời hạn nhất định. Tại Điều 200 BLTTDS về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, không có nội dung nào xác định bị đơn phải phản tố trong thời hiệu khởi kiện. Như vậy, trong khoảng thời gian từ khi tòa thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố bất kỳ lúc nào.

  Tuy nhiên, quan điểm theo các hướng nêu trên cũng chỉ dừng lại ở lập luận và nhận thức pháp luật của từng tổ chức hành nghề, từng TAND các địa phương. Việc yêu cầu phản tố có phải chịu sự điều chỉnh của quy định về thời hiệu theo BLTTDS hay không là vấn đề còn đang gây tranh cãi và cần có sự hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề này. Do đó, luật sư khi tham gia giải quyết vụ việc dân sự có thể  vận dụng từng quan điểm, cách hiểu trên để ứng xử, kiến nghị để tạo lợi thế cho thân chủ trong vụ việc dân sự đó.

  Trên đây là hướng dẫn mà Luật Minh Tín đưa ra về phản tố có tính thời hiệu. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín đưa ra sẽ giúp bạn đọc có thêm kiến thức về phản tố có tính thời hiệu.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Hồng Anh

[:en]

Is there a statutory counterclaim? Minh Tin Law and you study and propose the point of view of the statute of limitations.

Actual practice process, Minh Tin Law met many cases related to the case where the defendant made a counterclaim. However, in the People’s Courts in different localities give different views on whether or not to apply the statute of limitations for counterclaiming. This article offers some examples and views as follows:

For example 1: In September 2010, Company A signed a contract to build a factory building with Company B. By April 2011, Company A had fulfilled its obligations but Company B only paid nearly VND 800 million. At the same time, Company B has received the finalization documents, the completed documents (certified by the supervising consultant) but has not signed the documents without the reason while the remaining amount must be paid according to the block. The amount of construction is more than 700 million.

In May 2013, Company B sent a document to Company A to confirm the remaining amount to be paid is more than VND 300 million because Company A violated some contents of the contract. harm should last time unpaid. Now, Company B agrees to pay Company A a sum of VND 300 million and request the two parties to liquidate the contract.

Disagree, on May 11, 2015, Company A sued the People’s Court of Gia Vien district – Ninh Binh to request Company B to pay more than 900 million dong both principal and interest. By June 9, 2015, Company A paid court fees in advance at the request of the court. Company B also has a counter-claim but the court does not accept it because it considers that it has expired the two-year lawsuit term. After negotiation, the two companies have reached an agreement, so Company A withdraws its petition.

For example 2: In September 2010, DM Company signed construction equipment lease contract with TD Company. After September 16, TD Company has completed the obligations of leasing goods and other obligations in accordance with the contract signed by the parties. On June 30, 2012, DM Company sent a statement of debt with the amount of rent calculated only to May 8, 2011 and did not pay any amount to TD Company.

On October 15, 2013, TD Company sued the People’s Court of Hoan Kiem district to settle the case forcing the DM Company to pay the entire rent from September 2010 to January 2013 with the amount of over 1 billion 600 million VND both principal and interest. After being TP. Hanoi destroyed the first instance verdict on November 18, 2014 of the People’s Court of Hoan Kiem district. On June 15, 2015, the People’s Court of Hoan Kiem district reclaimed the case. On April 7, 2016, the defendant had a petition for counterclaim and was promptly accepted by the People’s Court of Hoan Kiem district and did not apply the statute of limitations. Through the most recent trial, up to now, the parties continue to appeal.

In the first case, the court refused to accept the defendant’s counter-claim for the reason that the statute of limitations for initiating a lawsuit expired. In the second case, the court quickly accepted the counter-claim without any problems with the statute of limitations. From here, a legal issue needs to be raised: Is there a statute of limitations applicable to counterclaims? How is the determination of the statute of limitations for the defendant’s counterclaim in civil case correct? The article should clarify the issues in the scope mentioned above.

yêu cầu phản tố
Statutory counterclaim?

1. Concepts and characteristics of counterclaim

The legal terminology system in Vietnam has not given a specific concept of “Counterclaim request”. However, as a defendant belonging to the defendant in a civil case, the counter-claim is understood as the making of “opposite” requirements to the plaintiff’s petition request, in other words it is the plaintiff’s “reverse lawsuit”. In order to be considered a counterclaim, the request must meet the requirements of the law. Specifically:

–  First, the object to which the defendant’s claim is directed can only be the plaintiff’s petition, the independent claim of the person with the relevant rights and obligations.

–  Second, the defendant’s counterclaim to the plaintiff is accepted when falling into one of the following cases (Clause 2 Article 200 of the 2015 Civil Procedure Code):

+  Request counter-claims to offset obligations to the plaintiff’s request, who has related rights and obligations that require independence;

+  The accepted counter-claim leads to the exclusion of part or all of the claimant’s claim, who has related rights and obligations that require independence;

+  Between the counterclaim and the claim of the plaintiff, the person with related rights and obligations has independent requirements related to each other. If resolved in the same case, it makes the settlement of the case more accurate and faster.

–  Thirdly, the time to make a counterclaim is before the opening of a meeting to examine the submission, access, publicity of evidence and conciliation (Item 3 Article 200 of the 2015 Civil Procedure Code).

2. Does the statute of limitations apply to counterclaims?

–  First point of view: A counter-claim is also considered to be a lawsuit request, so it must also apply the same time-limit as the petition.

According to Clause 4, Article 72 of the Civil Procedure Code, the defendant has the right to make a counterclaim to the plaintiff, if it is related to the plaintiff’s request or to propose to offset the plaintiff’s obligations. For a counterclaim, the defendant has the rights and obligations of the plaintiff stipulated in Article 71 of this Code. Thus, the defendant’s counterclaim is also interpreted as a petition. When there is a “counterclaim request”, the defendant has the same rights and obligations as the plaintiff. If the counterclaim request is beyond the time limit to take action, the court will take it as a basis for not accepting it.

In addition, according to Article 146 of the Civil Procedure Code, the defendant must also perform the obligation to pay court fee advance for his counterclaim. According to Article 202, the counter-claim procedure is also carried out in accordance with the plaintiff’s proceedings. Thus, the counterclaim request is also a lawsuit request so this requirement must also comply with the statute of limitations for initiating lawsuits under Article 184 of the Civil Procedure Code.

–  Second point of view: The counterclaim is not a lawsuit request but only the procedures of the petition request due to similarity should not be applied, the statute of limitations cannot be applied.

When the lawsuit is initiated by the plaintiff’s lawsuit, after the court receives the case, the defendant must find out what is the plaintiff’s petition to accept or request a counterclaim. Clause 4, Article 200 of the Code of Civil Procedure: The defendant has the right to make a counterclaim at any time before the opening of a meeting to examine the submission, access, publicity of evidence and conciliation. Thus, the time limit for petitioning only applies to the plaintiff’s petition request and not to the defendant’s counterclaim. This is a right that is not restricted to the defendant’s statute of limitations.

In lawsuits, the defendant is always in a passive position, depending on the plaintiff’s petitioning requirements. If the plaintiff makes a petition, the defendant knows that there is a counterclaim. In other words, the counterclaim request is always available after the petition request. When a petition is filed, a counterclaim is required. The defendant’s right to counterclaim is a form of “derivative” right from the plaintiff’s right to sue.

On the other hand, the statute of limitations for initiating a civil case is the time that the subject is entitled to sue, meaning that this is a provision for the plaintiff to exercise his right to sue within a certain period. In Article 200 of the Civil Procedure Code of the defendant’s right to claim counterclaim, there is no content that determines the defendant to counterclaim in the statute of limitations for initiating a lawsuit. Therefore, within the period of time since the court received the case before the meeting to examine the submission, access, publicity of evidence and mediation, the defendant has the right to make a counterclaim at any time.

However, the views in the above directions only stop at the legal arguments and perceptions of each organization, each local People’s Court. Whether or not a counterclaim is subject to the statute of limitations under the Civil Procedure Code is still controversial and requires the guidance of the Supreme People’s Court on this issue. Therefore, lawyers when participating in resolving civil cases can apply each of these views and understandings to conduct and petition to create advantages for customers in that civil case.

The above is the guideline that the Law of the Faith provides for the statutory counterclaim. Hopefully with what the Minh Tin Law will give you have more knowledge about statutory counterclaim.

For more detailed advice, please contact Minh Tin Law Firm at phone number – 0243.555.8410 / 0914.179.856 or send it to mailbox info@luatminhtin.vn.

We hope to receive your cooperation!

Best regards.

Author “Hong Anh”

[:]

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *