Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Minh Tín
Hotline:
0902.267.116

Chào mừng quý khách ghé thăm website Công ty Luật Minh Tín

Hôn nhân và gia đình

            Câu hỏi 1: Tôi và chồng tôi kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn. Chúng tôi có hai con chung một cháu 5 tuổi và một cháu được 24 tháng. Gần đây, tôi phát hiện chồng tôi sống chung như vợ chồng với một cô gái trẻ cùng cơ quan, anh ta đi cứ đi về nhà là tìm cách để chửi bới, thậm chí đánh tôi rất nhiều lần rồi vứt quần áo đuổi tôi ra khỏi nhà. Vậy thưa luật sư, làm thế nào để tôi có thể ly hôn được với chồng mình? Tôi muốn nhận nuôi cả hai con thì có được không? Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư.

            (Câu hỏi của chị Trần Thị T- xã Yên Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Trần Thị T ở Phú Thọ, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Thứ nhất, về căn cứ ly hôn đơn phương:

            Căn cứ  tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy  định:

            “Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

  1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

            Như chị đã trình bày, chồng chị thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình khiến chị thường xuyên phải trốn về nhà bố mẹ đẻ. Tuy nhiên, Tòa chỉ giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu một bên nếu anh chị đã hòa giải tại Tòa nhưng không thành và có căn cứ về việc chị bị bạo hành hay chồng chị có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng là sống chung với người phụ nữ khác như vợ chồng. Do đó, nếu có đủ căn cứ như trên thì yêu cầu ly hôn đơn phương của chị mới được giải quyết.

            Về thủ tục ly hôn đơn phương:

            Chị cần chuẩn bị 01 hồ sơ bao gồm những giấy tờ sau:

            – Đơn xin ly hôn đơn phương;

            – Bản sao Sổ hộ khẩu;

            – Bản sao CMND của hai vợ chồng, có chứng thực;

            – Bản chính Giấy đăng ký kết hôn;

            – Giấy tờ về tài sản (nếu có);

            – Bản sao Giấy khai sinh của con.

            Chị nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện (quận) nơi chồng chị cư trú hoặc làm việc.

            Thứ hai, về quyền nuôi con:

            Quyền nuôi con sẽ được giải quyết theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 như sau:

            “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

  1. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

            Nếu trong trường hợp hai vợ chồng không thể thỏa thuận về về việc nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa giải quyết. Theo đó, Tòa sẽ giao cho chị sẽ có quyền nuôi cháu bé 24 tháng, còn với cháu bé 5 tuổi, Tòa án sẽ căn cứ vào thu nhập, đạo đức, nhân phẩm, thời gian…của hai vợ chồng để quyết định người trực tiếp nuôi con.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 2: Cả hai vợ chồng tôi đều muốn ly hôn. Chúng tôi đã thỏa thuận được về việc nuôi con nhưng vẫn chưa quyết định được về tài sản. Vậy xin hỏi: Nếu chúng tôi nhờ Tòa giải quyết thì tài sản sẽ được chia như thế nào?

            (Câu hỏi của chị Vi Thị H – xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Vi Thị H ở Bắc Giang, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly  hôn sẽ được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

            “2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

  1. a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  2. b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  3. c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  4. d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

            Theo đó, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như:

            – Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

            – Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

            – Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

            – Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 3: Tôi đang thường trú tại Hà Nội. Chồng tôi có quốc tịch Mỹ và hiện đã bỏ về Mỹ được 2 tháng. Giờ tôi muốn ly hôn đơn phương với anh ta  thì tôi sẽ nộp đơn ở Tòa án nào?

            (Câu hỏi của chị Hoàng Thị C – phường Vỹ Dạ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Hoàng Thị C ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Trường hợp của chị là trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài nhưng bị đơn lại không có nơi cư trú, làm việc tại Việt Nam. Điểm c Khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định:

            “c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;”

            Nếu hiện tại chồng chị không còn ở Việt Nam thì chị có thể nộp đơn xin ly hôn tại TAND cấp tỉnh nơi chị cư trú hoặc làm việc. Tòa sẽ tiến hành xác minh địa chỉ của người chồng để lấy lời khai và giải quyết theo quy  định pháp luật của Việt Nam.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 4: Vợ chồng tôi ở chung với bố mẹ chồng. Đất là của bố mẹ chồng nhưng nhà hiện tại xây trên đất là của vợ chồng tôi bỏ tiền ra. Nếu tôi ly hôn với chồng thì tôi có được lấy lại tiền của mình để xây căn nhà này không?

            (Câu hỏi của chị Vũ Thị Bích L – Thị trấn Thường Tín, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Vũ Thị Bích L ở TP. Hà Nội, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Theo quy định tại Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình có quy định:

            “1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

  1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

            Theo đó, nếu có căn cứ về phần đóng góp của vợ chồng chị trong ngôi nhà thì chị sẽ được chia một phần ngôi nhà dựa theo công sức đóng góp của mình trong việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 5: Tháng 5/2016, Vợ chồng tôi đã ly hôn và Tòa đã ra bản án trong đó có buộc chồng tôi phải trợ cấp cho con là 2 triệu đồng/ tháng. Nhưng từ đó đến  giờ chồng tôi mới chỉ trợ cấp 2 tháng đầu sau đó không trợ cấp cho tôi nuôi con nữa. Tôi có liên lạc thì anh ta tắt máy, tránh mặt tôi. Vậy tôi phải làm gì để buộc anh ta trợ cấp cho con?

            (Câu hỏi của chị Hà Thanh H- Thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Hà Thanh H ở Thái Bình, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Trong trường hợp chồng chị không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chị có thể tiến hành yêu cầu thi hành án đối với chồng mình. Hồ sơ cần chuẩn bị bao gồm:

            – Đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng.

            – Bản chính Bản án sơ thẩm/phúc thẩm.

            – Tài liệu chứng cứ, chứng minh thu nhập của người chồng.

            – Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu.

            – Bản sao có chứng thực giấy khai sinh của con.

            Chị nộp hồ sơ trên tới Chi cục thi hành án cấp huyện nơi có bản án sơ thẩm được tuyên để được giải quyết.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 6: Tôi muốn ly  hôn đơn phương với chồng nhưng anh ta cố tình không hợp tác. Chồng tôi đã đi khỏi nơi cư trú gần 1 năm nay và tôi không có cách nào biết được anh ta đang sống ở đâu. Tôi nộp đơn lên Tòa thì Tòa không nhận đơn và yêu cầu tôi phải ghi đúng địa chỉ của chồng mình. Tòa làm như vậy có đúng không? Tôi phải làm thế nào thì Tòa mới thụ lý? 

            (Câu hỏi của chị Vũ Thị L – xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Vũ Thị L ở Bắc Ninh, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Việc ghi đúng địa chỉ của bị đơn trong đơn khởi kiện là  một trong những điều kiện để Tòa án thụ lý theo quy định tại Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015).  Do đó, chị cần ghi đúng địa chỉ của chồng. Trường hợp không rõ chồng mình ở đâu có thể căn cứ vào điểm e Khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 như sau:

            “Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

            Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP  Nghị quyết hướng dẫn  một số quy định Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện có hướng dẫn: 3. Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.”

            Theo đó, nếu không biết chính xác địa chỉ hiện tại của chồng, chị có thể ghi lại địa chỉ mà chồng mình đã từng cư trú, làm việc mà chị biết được gần nhất tính tới thời điểm nộp đơn khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác minh hoặc có căn cứ khác để chứng minh. Nếu đã ghi đúng địa chỉ theo quy định trên mà Tòa vẫn không thụ lý thì chị có thể khiếu nại hành vi này đến Chánh án Tòa án nơi chị nộp đơn khởi kiện để được giải quyết.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 7: Tôi ở Lạng Sơn và tôi muốn kết hôn với bạn gái là người Trung Quốc. Xin hỏi, nếu tôi muốn kết hôn với cô ấy ở Việt Nam có được không hay phải sang cả Trung Quốc để làm thủ tục? và thủ tục cụ thể như thế nào? Bao lâu thì được giải quyết?

            (Câu hỏi của anh Trần Đức P – xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của anh Trần Đức P ở Lạng Sơn, chúng tôi xin trả lời như sau:       

            Do bạn gái là người Trung Quốc nên trường hợp của anh là trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài. Do đó, nếu đáp ứng đủ các điểu kiện kết hôn thì anh và bạn gái có thể thực hiện đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Theo đó, căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 7 Luật hộ tịch 2014 thì UBND huyện có thẩm quyền đối với: “a) Đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật này có yếu tố nước ngoài” mà theo Khoản  Điều 3 Luật này thì bao gồm cả đăng ký kết hôn. Do đó, bạn có thể đăng ký kết hôn tại UBND huyện nơi mình cư trú.”

            Tuy nhiên, nếu anh thường trú tại xã biên giới giáp ranh với Trung Quốc còn bạn gái thường trú tại tại đơn vị hành chính của Trung Quốc tương đương với cấp xã của Việt Nam, anh có thể thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã biên giới nơi mình thường trú theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định 123/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch:

  1.  Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú.

            Về thủ tục, theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, anh cần chuẩn bị những giấy tờ sau:

             – Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định; hai bên nam, nữ có thể sử dụng 01 Tờ khai chung;

            – Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng cấp không quá 6 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ xác nhận công dân nước láng giềng hiện tại là người không có vợ hoặc không có chồng;

            –  Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.

             Thời hạn giải quyết là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 08 ngày làm việc.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 8: Vợ chồng tôi kết hôn năm 2004. Chồng tôi là sĩ quan quân đội sau đó phải vào miền Nam công tác năm cũng chỉ về 2,3 lần dịp lễ tết thăm vợ con. Sau một lần vào thăm chồng không báo trước tôi mới biết trong này anh ta đã đăng ký kết hôn với một cô gái trẻ và họ cũng có 1 đứa con chung. Khi tôi biết anh ta cũng ngang nhiên thừa nhận và buông lời thách thức muốn ly hôn. Thưa luật sư, tôi phải làm gì để họ chấm dứt việc sống chung của họ? Tôi không muốn ly hôn vì nghĩ đến con cái và tôi vẫn còn yêu chồng mình.

            (Câu hỏi của chị Trần Ngọc N – xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Trần Ngọc N ở Phú Thọ chúng tôi xin trả lời như sau:

            Theo thông tin chị cung cấp thì chồng chị đã kết hôn với chị nhưng bằng cách nào đó đã kết hôn được với một người phụ nữ khác. Đây là trường hợp kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Luật HNGĐ 2014. Do đó, chị có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

            Về hậu quả, Điều 12 Luật HNGĐ 2014 có quy định:

             “Điều 12. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

  1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
  2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

            3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.”

             Theo đó, sau khi chị yêu cầu Tòa hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa sẽ ra quyết định về việc hủy kết hôn trái pháp luật và quan hệ này sẽ phải chấm dứt. Đối với quan hệ tài sản sẽ được giải quyết theo quy định về giải quyết tài sản trong trường hợp chung sống như vợ chồng tại Điều 16 Luật HNGĐ 2014. Còn với quyền, nghĩa vụ  của cha mẹ con thì vẫn giải quyết theo quy  định về quyền nghĩa vụ  của cha, mẹ, con khi ly hôn.

            Câu hỏi 9: Năm 2014, Vợ chồng tôi khi kết hôn có được bố mẹ chồng tuyên bố cho 5 cây vàng và một mảnh đất 200 m2  trong ngày cưới, có cả khách mời và hai họ chứng kiến.Mảnh đất thì hiện ông bà vẫn đứng tên chưa sang tên cho chúng tôi còn vàng thì đã trao và tôi vẫn đang còn giữ. Biết được chúng tôi  sắp ly hôn thì bố mẹ chồng tôi đòi lại cả vàng và đất. Vậy Luật sư cho tôi hỏi tôi khi khi ly hôn với chồng, tôi có được chia nửa số tài sản này không?

            (Câu hỏi của chị Nguyễn Thị T xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của chị Nguyễn Thị T ở Hải Phòng, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ 2014 có quy định  như sau:

            “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”

            Theo đó, tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung được coi là tài sản chung và về nguyên tắc được chia đôi. Tuy nhiên, tài sản của chị thì cần phân định như sau:

            – Đối với 5 cây vàng, đây là tài sản đã được bố mẹ tuyên bố tặng cho cả hai vợ chồng trước sự chứng kiến của họ hàng thì đây sẽ được coi là tài sản chung và chị sẽ được hưởng 1/2 số tài sản này (hoặc 1/2 số vàng còn lại nếu tài sản này đã tiêu hao).

            – Đối với tài sản là quyền sử dụng đất đối với 200m2  tại điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 như sau: “a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;”. Do đó, việc thì đây là tài sản phải được đăng ký quyền sở hữu và việc tặng cho bắt buộc phải được lập thành văn bản và công chứng hoặc chứng thực. Nếu bố mẹ chồng chị mới chỉ tuyên bố bằng lời nói mà không có giấy tờ theo quy định trên thì việc tặng cho này không hợp pháp đồng nghĩa rằng đó không phải là tài sản chung của hai vợ chồng và chị sẽ không được hưởng phần của mình trong khối tài sản này.

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 10: Chào luật sư. Tôi có vấn đề mong được giải đáp: Bố mẹ tôi ly hôn năm 2008, sau đó năm 2010 bố tôi lấy vợ hai và không có con chung. Gần đây bố tôi phát hiện người vợ hai có quan hệ tình cảm với người khác và muốn ly hôn với bố. Không những thế, cô ta còn muốn chia đôi nhà và đất mà gia đình tôi đang sinh sống. Ngôi nhà này là của ông nội tôi để lại cho bố tôi vì trước đó gia đình tôi sống cùng và phụng dưỡng ông đến khi ông nội tôi mất. Bố tôi cũng đã đứng tên trên mảnh đất này và gia đình tôi vẫn sống ổn định từ đó đến nay. Vậy thưa luật sư, việc vợ hai của bố tôi đòi chia đôi ngôi nhà này có được không? Việc cô ta ngoại tình có vi phạm gì không?

            (Câu hỏi của anh Nguyễn Mạnh C – xã Tân An, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam)

Trả lời:

            Đối với câu hỏi của anh Nguyễn Mạnh C ở Quảng Nam, chúng tôi xin trả lời như sau:

            Theo thông tin anh cung cấp, ngôi nhà này là tài sản của bố anh có trước thời kì hôn nhân do đó nó là tài sản riêng theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật HNGĐ 2014” 1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”. Do anh cung cấp thông tin  chưa rõ ràng  nên chúng tôi chia thành 2 trường hợp như sau:

            +Trường hợp thứ nhất: Nếu trong thời kì hôn nhân, bố anh có thỏa thuận nhập khối tài sản này vào tài sản chung của vợ chồng với mẹ kế của anh thì đây sẽ vẫn được coi là tài sản chung và khi ly hôn mẹ kế của anh vẫn được chia một nửa tài sản này.

            + Trường hợp thứ hai: Trong thời kì hôn nhân, bố anh không nhập tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng thì đó vẫn là tài sản riêng của bố anh và mẹ kế của bạn không có quyền yêu cầu chia đôi. Tuy nhiên, nếu mẹ kế của anh có công sức đóng góp để làm tu sửa, cải thiện… làm tăng giá trị của khối tài sản này  và chứng minh được thì mẹ kế của bạn vẫn có quyền yêu cầu bố anh thanh toán khoản đóng góp đó.

            Đối với hành vi ngoại tình của mẹ kế anh, nếu có bằng chứng về  hành vi này thì tùy mức độ có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản c Điều 48 Nghị định  110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã với mức phạt  từ 1 000. 000 đ đến 3 000. 000 đ hoặc bị truy cứu TNHS theo Điều 147 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

            “Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

  1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
  2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

            Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

 

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial