Hỏi đáp thi hành án dân sự

thi hành án

Câu hỏi 1: Tháng 01/2018, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã ra Bản án với nội dung ông Nguyễn Văn T phải hoàn trả tôi số tiền 600 triệu đồng, thời hạn thanh toán đến hết tháng 06/2018. Nay đã quá thời hạn, tôi đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông T vẫn không thanh toán. Vậy, tôi có thể yêu cầu cơ quan nào giải quyết và làm thế nào để Bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành?

(Câu hỏi của anh Đinh Văn H ở huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Căn cứ theo quy định của pháp luật, sau khi bản án dân sự có hiệu lực, nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xem xét, giải quyết.

Đương sự (bao gồm người được thi hành và người phải thi hành án) có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án. Việc yêu cầu thi hành án phải kèm theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Theo Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành hoặc đã thi hành một phần thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành.

Về thẩm quyền thi hành án dân sự:

Theo khoản 1, Điều 35, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì cơ quan thi hành án cấp huyện sẽ có thẩm quyền thi hành đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành dân sự cấp huyện có trụ sở.

Hiện nay, cơ quan thi hành án cấp huyện là Chi cục Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án cấp tỉnh là Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Về việc ra quyết định thi hành án:

Theo khoản 1, Điều 36, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Toà án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định đối với phần bản án, quyết định sau đây:

(a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;

(b)  Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;

(c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản cho đương sự;

(d) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước.

Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành.

Ngoài những trường hợp theo khoản 1, Điều 36 nêu trên, Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án.

Nếu đã có đơn yêu cầu thi hành án rồi nhưng cơ quan thi hành án vẫn chưa cưỡng chế thi hành án thì bạn có quyền khiếu nại cơ quan thi hành án để được xem xét, giải quyết trong thời gian sớm nhất.

Câu 2: Tôi có một thắc mắc cần được tư vấn như sau: Tháng 09/2017, tôi có cho bà Nguyễn Thị X vay tiền, tuy nhiên đến hạn thanh toán bà X vẫn không trả. Tôi có khởi kiện ra tòa và tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã tuyên buộc bà X phải trả cho tôi số tiền đã vay. Hai bên đang làm thủ tục thi hành án thì bà X đã cố tình viết giấy mượn nợ của một người thân rồi cấn căn nhà của mình cho họ để không phải trả nợ cho tôi. Như vậy, hành vi của bà X có bị xem là tẩu tán tài sản không và có bị xử lý theo như quy định của pháp luật?

(Câu hỏi của chị Nguyễn Thị Thùy D ở quận 3, TP. Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bà X đã vay tiền của bạn. Khi đang trong giai đoạn chuẩn bị thi hành án, bà X đã cố tình chuyển quyền sở hữu căn nhà của mình qua cho người thân.

Với trường hợp của bạn, nếu bà X chuyển nhượng căn nhà sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật mà số tiền sau khi thu được dùng để thi hành án thì sẽ không bị coi là tẩu tán tài sản. Còn nếu bà X chuyển nhượng căn nhà sau khi có bản án đã có hiệu lực pháp luật mà số tiền thu được không dùng để thi hành án thì sẽ bị coi là tẩu tán tài sản.

Căn cứ quy định tại Điều 121 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực; trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”.

Cũng theo Khoản 2, Điều 75, Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì:

2. Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.”

Hành vi tẩu tán tài sản chính là việc xác lập các giao dịch các giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Nếu chứng minh được là hành vi tẩu tán tài sản thì hành vi đó sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, để chứng minh một hành vi có phải là hành vi tẩu tán tài sản hay không là rất khó.

Trong trường hợp này, nếu bạn chứng minh được việc chuyển quyền sở hữu nhà ở của bà X cho người thân nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ là hành vi tẩu tán tài sản, thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch này là vô hiệu. Bên cạnh đó, bạn vẫn có quyền yêu cầu Tòa án thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời liên quan đến việc cấm chuyển dịch tài sản để ngăn chặn những hành vi chuyển dịch tài sản này từ phía chủ sở hữu nếu thấy có yếu tố tẩu tán tài sản.

Câu 3: Tài sản của người phải thi hành án đang có tranh chấp thì Chấp hành viên có xử lý để thi hành án được không?

(Câu hỏi của anh Lê Văn T ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai)

Trả lời:

Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang có tranh chấp thì Chấp hành viên căn cứ theo quy định tại Điều 75 Luật thi hành án dân sự Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) để xử lý.

Thứ nhất, đối với trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên sẽ tiến hành thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này.

Thứ hai, đối với trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

Câu 4:Cơ quan thi hành án khi tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác cần phải đáp ứng các điều kiện gì?

(Câu hỏi của chị Mai Thị Thu T ở quận Cái Răng, TP. Cần Thơ)

Trả lời:

Trường hợp cơ quan thi hành án kê biên tài sản thuộc sở hữu chung được căn cứ theo quy định tại Điều 74,Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về việc cưỡng chế tài sản thuộc sở hữu chung như sau:

–  Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.

Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

–  Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:

a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;

b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

–  Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.

Theo quy định trên thì tài sản chung của người phải thi hành án với người khác đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp họ là người thế chấp, bảo lãnh cho người phải thi hành án) với người khác không liên quan đến bản án, quyết định đang được tổ chức thi hành. Do vậy, tài sản chung trong các vụ án hôn nhân gia đình, chia thừa kế đã được Tòa án giải quyết thì không thuộc trường hợp áp dụng theo Điều 74 Luật thi hành án dân sự nêu trên, vì người được thi hành án, người phải thi hành án đều là những người trong cùng bản án, quyết định. Hơn nữa, tài sản chung của họ đã được Tòa án giải quyết, phân chia.

Như vậy, điều kiện đầu tiên đó là tài sản chung bị kê biên không phải là tài sản chung trong các vụ án hôn nhân gia đình, chia thừa kế.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, Điều 74 Luật thi hành án dân sự thì điều kiện để kê biên tài sản chung của người có nghĩa vụ thi hành án là phải xác định được phần sử hữu của từng chủ sở hữu. Quy định này được hiểu là Chấp hành viên chỉ kê biên, xử lý tài sản sau khi đã có bản án của Tòa án về việc xác định tài sản chung.

Điều kiện thứ ba, cơ quan thi hành án khi kê biên tài sản chung của người có nghĩa vụ thi hành án phải chấp hành đúng các nguyên tắc sau:

–  Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án về việc tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan. Trong trường hợp này, chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

–  Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

Để được hỗ trợ chi tiết về các vấn đề thi hành án dân sự, Quý khách vui lòng liên hệ tới Công ty luật Minh Tín theo:

Số điện thoại: 024.3555.8410/0915.177.856

HOTLINE: 0902.267.116

Email: info@luatminhtin.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng.

Please follow and like us:
5

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

EnglishVietnamese
Follow by Email
Facebook
Facebook
YouTube
YouTube
Pinterest
Pinterest