HỎI – ĐÁP PHÁP LUẬT THỪA KẾ - Công ty Luật TNHH Minh Tín
Hotline:
0902.267.116

Chào mừng quý khách ghé thăm website Công ty Luật Minh Tín

HỎI – ĐÁP PHÁP LUẬT THỪA KẾ

            Câu hỏi 1: Ông bà tôi có 5 người con. Bố tôi là con nuôi được ông bà nhận nuôi từ bé. Ông tôi mất năm 2011, bà tôi mất năm 2015 và ông bà tôi đều không để lại di chúc. Di sản mà ông bà để lại là 500 triệu đồng tiết kiệm trong ngân hàng và 1 ngôi nhà 4 tầng 120m2 ở phố Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm. Ngày giỗ của bà, các bác có họp lại và thống nhất chia đều di sản cho 5 người mà không chia cho bố tôi vì bố tôi là con nuôi nên không được hưởng. Vậy, bố tôi có được hưởng di sản của ông bà để lại không? Nếu được thì bố tôi phải làm như thế nào? Rất mong nhận được sự tư vấn của Luật sư.

(Câu hỏi của anh Trần Đức T – xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định)

Trả lời:

Đối với câu hỏi của anh Trần Đức T ở Nam Định, chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, về quyền hưởng di sản thừa kế:

Căn cứ thông tin anh cung cấp, ông bà anh đã mất và đều không để lại di chúc, bố anh là con nuôi của ông bà từ bé. Cho nên đây là một trong những trường hợp thừa kế theo pháp luật được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 675 BLDS 2005: “a) Không có di chúc;”.

Điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

  1. a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  2. b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

…”

Theo đó, con nuôi được hưởng thừa kế ngang hàng như con đẻ mà không có sự phân biệt. Bố anh sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản thừa kế do ông bà để lại nếu đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định pháp luật.

Thứ hai, điều kiện để con nuôi được hưởng di sản từ cha mẹ nuôi:

Để được hưởng di sản thừa kế từ cha mẹ nuôi thì con nuôi phải được nhận nuôi một cách hợp pháp tức phải được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều 22 Luật Nuôi con nuôi như sau:

“Điều 22. Đăng ký việc nuôi con nuôi

  1. Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.
  2. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.
  3. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.”

Bên cạnh đó, Điều 50 Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng quy định như sau:

            ” Điều 50. Điều khoản chuyển tiếp

  1. Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
  2. a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;
  3. b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;
  4. c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.
  5. Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nđuôi con nuôi.”

Bởi vậy, nếu bố anh đã thực hiện thủ tục theo quy định trên thì bố anh có quyền hưởng di sản thừa kế từ cha mẹ nuôi. Ngược lại, trường hợp bố anh được ông bà nhận nuôi từ bé nhưng không tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định thì bố anh không được hưởng di sản này.

Thứ ba, thủ tục hưởng di sản thừa kế theo pháp luật:

Giả sử, bố anh đáp ứng được những điều kiện đã trình bày ở trên thì có thể khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế. Theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế sẽ áp dụng theo quy định của BLDS 2015 là 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản (kể từ thời điểm bà nội nuôi mất). Bố anh cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm những giấy tờ sau:

– Đơn khởi kiện;

– Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

– Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

– Bản kê khai các di sản;

– Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

– Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).

Do di sản thừa kế ông bà anh để lại là bất động sản (nhà và đất ở phố Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm) và động sản là 500 triệu tại ngân hàng cho nên theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì bố anh sẽ nộp hồ sơ trên đến TAND quận Hoàn Kiếm (nơi có bất đống sản) để được giải quyết quyền lợi.

Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 2: Năm 2012, ông bà nội tôi cùng qua đời do tai nạn để lại một mảnh đất 400m2 và căn nhà 03 tầng trên đó. Khi mất cả hai ông bà đều không để lại di chúc. Trước đó, gia đình chú út tôi sống chung với ông bà trên mảnh đất này và chăm sóc ông bà. Sau khi ông bà mất, bác cả và chú út tôi bàn nhau sẽ chia đôi ngôi nhà này. Do bố tôi đã mất (năm 2010) nên bác cả nói bố tôi không được hưởng nữa. Vậy xin hỏi tôi là con trai duy nhất của bố có được hưởng di sản của ông bà nội không?

(Câu hỏi của anh Nguyễn Trọng Đ – xã Bảo Thuận, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng)

Trả lời:

Đối với câu hỏi của anh Nguyễn Trọng Đ ở Lâm Đồng, chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ thông tin anh cung cấp, ông bà nội anh chết không để lại di chúc. Do đó, đây là trường hợp thừa kế theo quy định tại Điều 675 BLDS 2005. Trong trường hợp này, bố anh chết năm 2010 tức chết trước ông bà nội anh cho nên đây là trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 BLDS 2005 như sau:

            “Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Theo đó, anh là cháu sẽ được hưởng phần di sản của bố được hưởng nếu còn sống. Cụ thể, khối tài sản trên sẽ được chia làm 03 phần, trong đó anh sẽ được hưởng 1/3 trong khối di sản này.

Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 3: Bố mẹ tôi sống chung với ông bà. Bà nội tôi chết năm 2009 và có di chúc (bằng văn bản có chứng thực của UBND xã) để lại toàn bộ phần di sản của bà cho ông nội tôi. Năm 2012, ông nội tôi trước khi chết đã dặn dò con cái rằng nhà và đất của ông bà sẽ để lại cho bố mẹ tôi vì đã chăm sóc ông lúc ốm đau đồng thời cũng là để nơi hương hỏa sau này. Việc dặn dò trước sự có mặt của tất cả mọi người nhưng do sơ suất nên không có ai kịp ghi chép lại. Mới đây, đợt nghỉ lễ 30.4 bác cả tôi về yêu cầu họp gia đình và yêu cầu chia thừa kế đối với di sản mà ông bà để lại. Vậy xin hỏi bác cả tôi có quyền yêu cầu chia thừa kế không?

(Câu hỏi của chị Nguyễn Thị H – thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên)

Trả lời:

Đối với câu hỏi của chị Nguyễn Thị H ở Thái Nguyên, chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ thông tin chị cung cấp, năm 2009, bà nội chị chết đã lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho ông nội và di chúc này hoàn toàn hợp pháp theo quy định tại Điều 650 và Điều 652 BLDS 2005. Năm 2012, ông nội chị trước khi chết đã di chúc miệng rằng nhà và đất sẽ để lại cho bố mẹ chị. Điều 651 BLDS 2005 quy định về di chúc miệng như sau:

Điều 651. Di chúc miệng

  1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
  2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.”

Khoản 5 Điều 652 BLDS 2005 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.”

            Theo quy định trên, trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì người đó có thể lập di chúc miệng. Tuy nhiên, việc lập di chúc miệng này phải được thể hiện trước sự chứng kiến của ít nhất hai người làm chứng và trong thời hạn 05 ngày sau đó, người làm chứng phải ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ đồng thời phải tiến hành công chứng hoặc chứng thực. Đối với trường hợp của chị, khi ông nội chị chết có di chúc lại trước mặt tất cả mọi người nhưng việc di chúc miệng này lại không được ghi chép lại và công chứng/chứng thực. Việc di chúc miệng của ông nội chị không đáp ứng được điều kiện hình thức theo quy định điều đó đồng nghĩa với việc nó không hợp pháp và không phát sinh hiệu lực trên thực tế. Hơn nữa, ông nội chị chết năm 2012 cho nên vẫn còn thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế theo quy định. Do đó, bác của chị vẫn có quyền khởi kiện chia thừa kế đối với di sản mà ông nội chị để lại.

Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 4: Bố mẹ tôi kết hôn năm 1988 sinh được hai chị em tôi. Năm 2012, bố tôi bệnh nặng qua đời có để lại di chúc. Theo di chúc, bố tôi để lại toàn bộ di sản trị giá 700 triệu cho ba mẹ con tôi. Do ghét mẹ tôi và bị người khác xúi giục nên ông bà nội tôi đòi chia di sản thừa kế của bố tôi. Thưa luật sư, bố tôi đã để lại di chúc như vậy thì ông bà nội tôi có được hưởng di sản từ bố tôi nữa hay không? Nếu có thì được hưởng bao nhiêu? Mong nhận được sự tư vấn của Luật sư.

(Câu hỏi của chị Trần Thị Huyền T – xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái)

Trả lời:

Đối với câu hỏi của Trần Thị Huyền T ở Yên Bái, chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, vể quyền hưởng di sản: 

Như chị trình bày, bố chị đã chết năm 2012 và để lại di chúc. Theo di chúc, ông bà nội chị không được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, Điều 669 BLDS 2005 có quy định về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

  1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
  2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”

Theo đó, tuy ông bà chị không được bố chị cho hưởng di sản nhưng vẫn thuộc trường hợp được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc và được hưởng di sản bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.

Thứ hai, giá trị phần di sản thừa kế mà người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc được hưởng:

Theo thông tin chị cung cấp, bố chị có 5 người thừa kế theo pháp luật. Do đó, giá trị một suất thừa kế theo pháp luật = 700 triệu đồng/5 = 140 triệu đồng.

=> Giá trị phần di sản mà ông và bà nội của chị mỗi người được hưởng = 2/3×140 triệu đồng = 93,3 triệu đồng.

Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

            Câu hỏi 5: Thưa luật sư. Ông nội tôi vừa mất tháng 1/2017 không để lại di chúc. Sau 49 ngày của ông, gia đình có họp lại thống nhất giữ toàn bộ tài sản cho bà quản lý. Sau đó vài ngày có chú tên C đến thắp hương và nhận là con trai riêng của ông. Chú C đưa cho gia đình tôi giấy khai sinh trong đó tên cha đúng là tên của ông nội tôi và người này yêu cầu chia di sản mà ông để lại. Vậy xin hỏi, chú C yêu cầu như vậy có được không? Có cách nào để xác thực giấy khai sinh kia là thật không thưa Luật sư?

(Câu hỏi của anh Tăng Mạnh C – xã Quỳnh Yên, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An)

Trả lời:

Đối với câu hỏi của anh Tăng Mạnh C ở Nghệ An, chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, về quyền hưởng di sản theo pháp luật của con ngoài giá thú:

Do ông nội anh không để lại di chúc cho nên di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

  1. a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

            …”

Theo đó, vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết sẽ được hưởng di sản mà người đó để lại. Theo thông tin anh cung cấp, anh C là con riêng của ông nội anh nên về nguyên tắc vẫn được hưởng thừa kế từ ông. Tuy nhiên, người này phải chứng minh được quan hệ cha con giữa anh ta và ông nội của anh. Việc anh ta cung cấp giấy khai sinh cũng là một căn cứ thể hiện quan hệ cha con giữa anh ta với ông nội của anh.

Thứ hai, việc xác thực tính hợp pháp của giấy khai sinh:

Trường hợp gia đình anh nghi ngờ về tính hợp pháp của Giấy khai sinh mà anh C đưa ra thì có thể xác minh tại UBND xã nơi có thẩm quyền cấp Giấy khai sinh cho anh C để làm rõ.

Trên đây là ý kiến giải đáp của Công ty Luật Minh Tín. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ số điện thoại: 0915.177.856 hoặc địa chỉ: Công ty Luật TNHH Minh Tín, tầng 4, tòa nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

 

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial