TIN PHÁP LUẬT - Công ty luật Minh Tín | Tư vấn luật toàn quốc | Dịch vụ luật sư

(English) Hotline

Hotline:
      Miền Bắc                     Miền Nam
45737657_181290969478408_300901916949348352_n0902.267.116     45737657_181290969478408_300901916949348352_n0932.103.586 

Chào mừng quý khách ghé thăm website Công ty Luật Minh Tín

TIN PHÁP LUẬT

Vụ tai nạn giao thông ở Hoài Đức (Hà Nội): Hủy toàn bộ án sơ thẩm

  Chiều 29/8, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tại Tòa, xuất hiện nhiều tình tiết cho thấy chính nạn nhân trong vụ án là người có lỗi. Việc TAND huyện Hoài Đức tuyên phạt Nguyễn Hùng Vương (người lái ô tô) 42 tháng tù là chưa có cơ sở.

  Xe ô tô đi đúng phần đường, vẫn bị quy kết là sai phạm

  Trước đó, như Báo PNVN đã thông tin, bản án sơ thẩm số 12/2018 ngày 27/2/2018 của TAND huyện Hoài Đức (Hà Nội), cho thấy: Khoảng 23h ngày 24/10/2016, Nguyễn Hùng Vương (SN 1984, trú huyện Đan Phượng, Hà Nội) điều khiển xe taxi BKS 30A – 398.63 chở chị Nguyễn Thùy Linh (SN 1988) đi trên quốc lộ 32 theo hướng Hà Nội – Sơn Tây.

  Đến khoảng 00h15’ ngày 25/10/2016, khi Vương điều khiển xe đến km 18+900 đường 32 thuộc thôn Thượng Thụy, xã Đức Thượng (Hoài Đức) thì thấy phía trước cách khoảng 20m có 01 xe máy đi ngược chiều, xe máy đó lấn hẳn sang làn đường của xe ô tô do Vương điều khiển.

huy-an-so-tham

Hiện trường vụ tại nạn

  Thấy vậy, Vương điều khiển ô tô đánh lái sang trái theo hướng đi của Vương thì người lái xe máy cũng đánh lái sang phải theo hướng đi của xe máy. Khi phần đầu xe ô tô vượt qua vạch kẻ sơn trắng đứt quãng chia 2 làn đường sang làn đường của xe đi ngược chiều thì đâm vào xe máy.

  Vụ tai nạn làm người điều khiển xe máy (về sau xác định là anh Vũ Hải, SN 1994) va vào kính chắn gió của ô tô. Còn người ngồi sau xe máy là chị Nguyễn Thị Hường (SN 1994) ngã văng về phía sau xe ô tô. Vương và chị Linh đã xuống xe ô tô đưa 2 người đi xe máy vào viện cấp cứu, nhưng chị Hường đã tử vong sau đó. Còn anh Hải về sau được xác định tỉ lệ thương tật là 74%.

  Sau đó, Vương bị khởi tố và truy tố về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 2, Điều 202 BLHS 1999.
Theo nhận định của HĐXX TAND huyện Hoài Đức, thì: “Nguyễn Hùng Vương là người điều khiển ô tô đi lấn sang đường của xe máy đi ngươc chiều đã vi phạm Luật Giao thông đường bộ.
Nguyên nhân chính của vụ tai nạn là do bị cáo điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều, không làm chủ tốc độ nên đã gây ra tai nạn giao thông”…

  Từ những nhận định như vậy, HĐXX đã tuyên phạt Vương 42 tháng tù. Buộc Vương phải bồi thường cho gia đình chị Hiền 118 triệu đồng; bồi thường cho anh Vũ Hải 123 triệu đồng (làm tròn số).

  Nhiều dấu hiệu oan sai

  Có 2 vấn đề mấu chốt trong vụ án này để xác định lỗi thuộc về ai là điểm va chạm của ô tô với xe máy; lỗi của hai người điều khiển phương tiện là Nguyễn Hùng Vương và Vũ Hải.

  Trong quá trình điều tra vụ án này, Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành trưng cầu giám định để xác định điểm va chạm trên mặt đường giữa hai xe. Theo kết luận của Viện Khoa học hình sự (Bộ công an), thì: “Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định, không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô với xe mô tô trên mặt đường”.

huy-an-so-tham

Luật sư Minh Tín bào chữa cho bị cáo thắng kiện

  Luật sư (LS) Lê Đình Việt (Cty Luật TNHH Minh Tín, bào chữa cho bị cáo Vương) cho rằng, với với kết luận trên, không thể khẳng định bị cáo Vương đã “lấn làn”, gây tai nạn trong vụ án này.

  Theo LS Việt, việc các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) cấp sơ thẩm căn cứ vào vị trí xe ô tô sau tai nạn để kết luận bị cáo đã lấn làn là không phù hợp, thiếu khách quan và có dấu hiệu oan sai. Bởi theo hướng bị đẩy đi sau tai nạn và quán tính di chuyển của xe taxi (cần phản ứng đạp phanh của lái xe nên xe không thể dừng ngay tức khắc được). Vì vậy, khi xảy ra va chạm ở phần đường bên này nhưng sau đó, xe taxi có thể tiếp tục bị dịch chuyển theo quán tính sang làn xe bên kia thì cũng là điều phù hợp với diễn biến khách quan.

  Trong khi đó, bị cáo Vương luôn kêu oan và khẳng định, nhận thấy tình huống nguy hiểm khi có phương tiện ngược chiều lấn làn, bị cáo đã đánh lái sang trái để tránh va chạm. Khi bánh trái xe ô tô qua vạch phân làn giữa đường được khoảng 30cm thì đã bị mô tô của anh Hải đâm mạnh vào phần đầu bên phải của xe taxi.

  Cũng theo luật sư Việt, với lời khai trên, cộng với dấu vết tại hiện trường (dấu vết xe mô tô cày trên đường; vết máu và xe mô tô đều ở phần đường của xe taxi), vị trí va chạm trên xe (bên phải xe ô tô)… thì có thể thấy, bản thân bị hại Hải đã lấn làn của xe ngược chiều. Tức là rất có thể, sau khi đánh lái qua bên trái và chưa chạy được về đúng làn đường của mình thì anh Hải đã đâm xe mô tô vào đầu xe taxi. Như vậy, các cơ quan THTT cấp sơ thẩm đã không làm rõ lỗi của bị hại Hải trong vụ án này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu sót người, lọt tội cũng như có dấu hiệu oan sai, “dồn” tội cho bị cáo Vương.

  Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nhiều dấu hiệu cho thấy, Hải đã sử dụng rượu, bia trước thời điểm xảy ra tai nạn. Nhưng không hiểu sao, Công an huyện Hoài Đức lại không tiến hành giám định nồng độ cồn trong máu đối với Hải, mà chỉ tiến hành giám định đối với anh Vương. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật, việc giám định nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện gây tai nạn như trong trường hợp này là bắt buộc.

  Và điều kỳ lạ nữa là chấn thương của Hải không hề liên quan đến não nhưng khi khai với cơ quan công an, Hải lại không thể nhớ được điều gì trong khoảng thời gian từ 22h ngày 24/10/2016 đến khi xảy ra tai nạn.

  Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, nhân chứng Lê Văn Tuấn (người trực tiếp chứng kiến vụ tai nạn), cho biết: Thời điểm đó, tôi lái xe ô tô chạy phía sau xe của anh Vương khoảng 80 – 100m. Tôi vừa phát hiện có ánh đèn xe máy chạy ngược chiều phía trước thì ngay sau đó xe máy và ô tô của anh Vương đâm vào nhau, gây ra tiếng nổ lớn. Điểm va chạm của hai xe nằm hoàn toàn bên phần đường của xe taxi…

  Còn nhân chứng Đào Văn Long – người đã bế anh Hải đưa đi viện cấp cứu, cho biết: Quá trình tôi đưa Hải đi viện, Hải hầu như không thở được bằng mũi mà thở bằng mồm, tôi ngửi thấy mùi cồn nồng nặc. Tôi đã phải cố gắng nhịn để không bị nôn khi ngửi thấy mùi cồn từ Hải. Sau đó, trong quá trình Hải nằm viện điều trị, tôi nhiều lần đến thăm thì Hải có kể với tôi là hôm đó đi sinh nhật bạn, có uống khá nhiều bia trước lúc xảy ra tai nạn…

  Luật sư Việt cũng khẳng định, quá trình giải quyết vụ án, CQĐT Công an huyện Hoài Đức đã có nhiều sai phạm nghiêm trọng, có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án, cụ thể:

  Lấy đi phần đầu của tài liệu xét nghiệm nồng độ cồn của bị cáo (BL 73). Bút lục số 73 không phải là tài liệu nguyên vẹn, đây chỉ là trang cuối cùng của tài liệu (chỉ chứa phần cuối cùng của con dấu giáp lai). Như vậy, phần đầu của tài liệu này đã bị lấy ra khỏi hồ sơ vụ án.

  Các bút lục từ số 126 đến 129 đã bị rút ra khỏi hồ sơ vụ án, phía CQĐT đã không thể lý giải nguyên nhân lấy đi cũng như nội dung của các bút lục này; Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông được đánh số BL 19, 20 được sửa thành 15, 16…

  Từ những nhận định trên, các luật sư bào chữa cho bị cáo đã đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không phạm tội, đình chỉ giải quyết vụ án.

  Sau quá trình nghị án, HĐXX TAND TP Hà Nội, nhận định: Căn cứ vào hồ sơ vụ án và các diễn biến tại phiên tòa, chưa thể xác định được điểm va chạm giữa ô tô và xe máy trong vụ tai nạn. Vì thế, việc HĐXX cấp sơ thẩm kết tội đối với bị cáo Vương là chưa có cơ sở. Hơn nữa, cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ được lỗi của anh Vũ Hải trong vụ án… Những vấn đề này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 12/2018 ngày 27/2/2018 của TAND huyện Hoài Đức, trả hồ sơ vụ án để điều tra, xét xử lại.

  Nguồn: http://phunuvietnam.vn/luat-doi/vu-tai-nan-giao-thong-o-hoai-duc-ha-noi-huy-toan-bo-an-so-tham-post47811.html

Vụ tai nạn giao thông tại Hoài Đức, Hà Nội: Không xác định được điểm va chạm trên đường, làm sao quy kết bị cáo “lấn làn”?

  Liên quan đến vụ tai nạn giao thông làm 1 người chết, 1 người bị thương vào rạng sáng 25/10/2016 tại quốc lộ 32 (địa phận xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội), TAND huyện Hoài Đức đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hùng Vương (SN 1984, trú tại huyện Đan Phượng, Hà Nội) 42 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Trong khi đó, bị cáo liên tục kêu oan và cho rằng, lỗi đi lấn làn thuộc về người điều khiển xe mô tô đi hướng ngược chiều (bị thương sau vụ tai nạn) chứ không phải của mình.

  Theo bản án sơ thẩm, vào khoảng 0h15 phút ngày 25/10/2016, bị cáo Vương điều khiển xe ô tô taxi (BKS 30A-398.63) lưu thông trên quốc lộ 32 theo hướng Hà Nội đi Sơn Tây. Khi đi đến km 18 + 900 quốc lộ 32 thuộc địa phận thôn Thượng Thụy, xã Đức Thượng, Vương phát hiện phía trước đầu xe của bị cáo cách khoảng 20m có 1 xe mô tô đi ngược chiều (do anh Vũ Hải điều khiển chở chị Nguyễn Thị Hường) lấn sang làn đường bên trái (theo hướng mô tô). Thấy vậy, Vương đánh lái sang trái theo hướng đi của mình nhưng lúc đó, anh Hải cũng đánh lái sang phải theo hướng đi của mình. Khi phần đầu xe ô tô của Hải vượt qua vạch kẻ sơn trắng đứt quãng (chia 2 làn đường), lấn sang làn đường của xe đi ngược chiều thì đâm vào phần đầu xe mô tô của  anh Hải. Hậu quả vụ tai nạn làm chị Hường bị tử vong, anh Hải bị tổn hại 74% sức khỏe và 2 phương tiện bị hư hỏng”.

va-cham-tai-nan-giao-thong

Hiện trường tai nạn giao thông ở Hoài Đức

 
  Đáng nói, trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành trưng cầu giám định để xác định điểm va chạm trên mặt đường giữa hai xe. Tuy nhiên, Viện Khoa học hình sự (Bộ công an) đã trả lời rõ: “Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định, không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô với xe mô tô trên mặt đường”.

  Luật sư (LS) Lê Đình Việt (Cty Luật TNHH Minh Tín, bào chữa cho bị cáo Vương) cho rằng, việc chứng minh tội phạm là trách nhiệm của các cơ quan tố tụng nhưng rõ ràng, với với kết luận trên thì không thể khẳng định bị cáo Vương đã “lấn làn”, gây tai nạn trong vụ án này.

  Theo LS Việt thì việc các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) cấp sơ thẩm căn cứ vào vị trí xe ô tô sau tai nạn để kết luận bị cáo đã lấn làn là không phù hợp, thiếu khách quan và có dấu hiệu oan sai. Bởi theo hướng bị đẩy đi sau tai nạn và quán tính di chuyển của xe taxi (cần phản ứng đạp phanh của lái xe nên xe không thể dừng ngay tức khắc được) thì xe taxi sẽ có xu hướng dịch chuyển sang bên làn đường bên kia. Vì vậy, khi xảy ra va chạm ở phần đường bên này nhưng sau đó, xe taxi tiếp tục bị dịch chuyển theo quán tính sang làn xe bên kia thì cũng là điều phù hợp với diễn biến khách quan.

  Trong khi đó, bị cáo Vương cũng luôn kêu oan và khẳng định, nhận thấy tình huống nguy hiểm khi có phương tiện ngược chiều lấn làn, bị cáo đã đánh lái sang trái để tránh va chạm. Khi bánh trái xe ô tô qua vạch phân làn giữa đường được khoảng 30cm thì đã bị mô tô của anh Hải đâm mạnh vào phần đầu bên phải của xe taxi.

  LS. Việt cho rằng, với lời khai trên, cộng với dấu vết tại hiện trường (dấu vết xe mô tô cày trên đường; vết máu và xe mô tô đều ở phần đường của xe taxi), vị trí va chạm trên xe (bên trái xe ô tô), độ rộng của xe ô tô (1,2m)… thì có thể thấy, bản thân bị hại Hải cũng đã lấn làn của xe ngược chiều.  Tức là rất có thể, sau khi đánh lái qua bên trái và chưa chạy được về đúng làn đường của mình thì anh Hải đã đâm xe mô tô vào đầu xe taxi. Như vậy, các cơ quan THTT cấp sơ thẩm đã không làm rõ lỗi của bị hại Hải trong vụ án này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu sót người, lọt tội cũng như có dấu hiệu oan sai, “dồn” tội bị cáo Vương.

  Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, các cơ quan THTT đã biết rất rõ việc anh Hải điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe, lái xe không đội mũ bảo hiểm… nhưng đều không đề cập đến lỗi của anh này. Việc anh Hải tự ý lấy xe của anh Vũ Văn Quảng mang đi sử dụng (không được sự đồng ý của anh Quảng) và tháo Biển kiểm soát (cất vào trong cốp xe), không thể nhớ và khai gì về diễn biến từ khoảng 22 giờ ngày 24/10/2016 đến khi xảy ra tai nạn, có dấu hiệu sử dụng rượu bia… là những điều mờ ám, cần phải làm rõ trong vụ án này.

Nguồn:http://baophapluat.vn/xa-lo-phap-luat/vu-tai-nan-giao-thong-tai-hoai-duc-ha-noi-khong-xac-dinh-duoc-diem-va-cham-tren-duong-lam-sao-quy-ket-bi-cao-lan-lan-409516.html

Bất thường quanh vụ vợ ‘tự thú’ bắn chồng ở Hà Nội

  Đến cơ quan công an trình báo về việc bị con trai dùng súng bắn nhưng do có sự “vận động, thuyết phục” của điều tra viên mà Lê Ngọc Lê (SN 1976, trú tại Hoàn Kiếm, Hà Nội) đã “tự thú” rằng, mình là người đã cầm súng “bắn dọa” chồng. Ngay sau đó, lời “tự thú” đã bị Lê phản cung và khẳng định mình đã bị “dụ dỗ, ép cung”.

  Theo Cáo trạng của VKSND TP Hà Nội, xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng nên khoảng 20h ngày 31/12/2014, Lê Ngọc Lê đã dùng súng (loại súng tự chế, dạng ổ quay) bắn chồng là anh Trương Hữu Tiến khi anh này vừa đi làm về nhà (số nhà 671 Hồng Hà, quận Hoàn Kiếm). Do không bị trúng đạn nên anh Tiến lao vào Lê, Lê liền giơ súng bắn tiếp một phát nữa nhưng đạn không nổ.

  Hai bên vật lộn nhau thì cháu Trương Tiến Sơn (con anh Tiến và Lê) từ tầng 2 chạy xuống, mở cửa ra ngoài tìm người giúp đỡ. Lúc này, anh Tiến chạy ra ngoài và đến Công an phường Chương Dương trình báo.

  Giám định kết luận khẩu súng thu được tại hiện trường có thể gây sát thương (chết hoặc bị thương) nếu bắn ở khoảng cách đến 10m. Chính vì vậy, Lê đã bị truy tố về tội “Giết người” mà bị hại trong vụ án chính là chồng Lê.

  Tuy nhiên, điều khó hiểu ở chỗ, ngay từ khi ghi lời khai vào đêm 31/12/2014 thì anh Tiến đã được Công an phường Chương Dương xác định tư cách là “bị hại”. Trong khi đó, tuy đến trình báo trước chồng 15 phút, với vết thương chảy máu trên đầu và cho biết mình đã bị con trai Trương Tiến Sơn dùng súng bắn nhưng Lê lại được công an xác định là “người liên quan”.

  Khi chỉ mới vừa tiếp nhận lời khai của hai vợ chồng anh Tiến (lời khai mâu thuẫn nhau và chưa có nhân chứng, chưa xem xét hiện trường, chưa thu giữ vật chứng…), căn cứ vào đâu Công an phường Chương Dương lại xác định anh Tiến là “bị hại”? Còn người bị thương lại là “người liên quan”?

vo-ban-chong

Bất thường quanh vụ vợ tự thú bắn chồng ở Hà Nội (Ảnh minh họa)

  Theo Luật sư Lê Đình Việt (Cty Luật TNHH Minh Tín) thì quan điểm áp đặt ngay từ đầu (cho rằng anh Tiến là bị hại) này chứng tỏ định hướng điều tra ban đầu đã thiếu khách quan, ảnh hưởng đến quá trình xác định sự thật của vụ án.

  Bất ngờ “tự thú” sau khi được điều tra viên “vận động”

  Trong nhiều lần lấy lời khai vào các ngày 1-2-3/1/2015, Lê đều khai rằng, khi đang nằm xem ti vi ở tầng 1 thì anh Tiến về nhà và gọi “Sơn ơi! Cầm cái ấy xuống làm đi”. Tiếp theo, Sơn đi từ tầng 2 xuống, đứng ở bậc thang cầm súng bắn về phía Lê.

  Lê (vốn bị bệnh tim bẩm sinh) sợ quá nên ngất đi. Khi tỉnh lại thì nghe thấy tiếng anh Tiến hỏi con “nó chết chưa?”. Sơn trả lời: “chết rồi, thấy nằm im, máu ra nhiều”… Lê liền nằm im giả vờ chết và cầm máy điện thoại nhắn tin cầu cứu cho Phó Trưởng Công an phường Chương Dương. Sau đó, Lê thấy cửa mở liền vùng dậy chạy ra khỏi nhà, đến Công an phường Chương Dương trình báo.

  Tuy nhiên, đến đêm 3/1/2015 thì Lê có lời khai và viết “đơn tự thú” khai nhận việc mình đã cầm súng (mua ở Tân Thanh, Lạng Sơn) bắn dọa anh Tiến. Sau đó, Lê bị anh Tiến dùng tuýp nước bằng sắt đánh vào đầu. Lê liền bắn phát thứ hai lên trần nhà nhưng đạn không nổ nên đã vứt súng xuống nền nhà. Đến ngày 5/1, khi thực nghiệm điều tra, Lê đã diễn tả hành động như lời tự thú trên.

  Ngày 9/1, Lê bị khởi tố bị can về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và 5 tháng sau thì bị khởi tố bổ sung về tội “Giết người”.

  Tuy nhiên, ngay từ ngày 12/1/2015, khi nhận quyết định khởi tố bị can thì Lê đã phản cung, không thừa nhận cầm súng bắn chồng và khẳng định việc khai nhận tội là do được Điều tra viên (ĐTV) Nguyễn Trường Linh (CQĐT Công an quận Hoàn Kiếm) khuyên nên nhận lỗi về mình để cho chồng, con thoát tội. Chính vì vậy, Lê đã nhận mình là người tàng trữ và bắn súng.

  Đáng nói, khi làm việc với VKSND TP Hà Nội thì ĐTV Nguyễn Trường Linh đã thừa nhận, ngày 3/1/2015, Lê được ra viện và đến Công an quận Hoàn Kiếm làm việc. Tại đây, ông Linh đã “vận động, thuyết phục” Lê nhận hành vi dùng súng bắn chồng.

  Không hiểu việc “vận động, thuyết phục” của ĐTV ra sao nhưng hiện nay, Lê vẫn khẳng định đã bị “dụ cung, ép cung”. Ngoài ra, bị can này còn cho biết, từ chiều 2/1, Lê đã được Công an phường Chương Dương đưa thẳng từ bệnh viện về trụ sở lấy lời khai, làm việc liên tục cho đến chiều 3/1 thì tiếp tục bị đưa đến Công an quận Hoàn Kiếm. Cho đến 21h45 ngày 3/1 thì Lê vẫn được ĐTV lấy lời khai với tư cách là “người liên quan”. Đến 23h cùng ngày thì Cơ quan CSĐT mới ra Quyết định tạm giữ (thời hạn 3 ngày) đối với Lê.

  Với diễn biến trên, LS Việt cho rằng, việc Lê bị tạm giữ trái luật (từ chiều 2/1 đến đêm 3/1) như trên thì không thể nói Lê đã “tự nguyện” đến công an quận Hoàn Kiếm viết “đơn tự thú”.

  Như vậy, trong suốt quá trình từ khi xảy ra vụ việc cho đến nay, Lê chỉ “nhận tội” tại một số lời khai từ đêm 3/1 đến 5/1/2015. Còn tất cả lời khác, Lê đều khẳng định mình không hề dùng súng bắn chồng, không có việc mua súng ở Cửa khẩu Tân Thanh như đã khai nhận.

  Đối chiếu với lời khai này và các chứng cứ khác, LS Việt khẳng định chứng cứ kết tội Lê đang có rất nhiều mâu thuẫn, có dấu hiệu oan sai.

Điều tra viên “giữ hộ” tiền của bị can, không đưa vào hồ sơ

  Theo tố cáo của Lê, khi bị đưa vào nhà tạm giữ Công an quận Hoàn Kiếm vào đêm 3/1/2015, Lê đã bị ĐTV Nguyễn Trường Linh thu giữ một chiếc cặp da, trong đó có một số tiền, giấy tờ và đồ trang sức.

  Khi làm việc với VKSND TP Hà Nội về tố cáo trên, ông Linh cho rằng mình không hề thu giữ cặp da, giấy tờ hoặc đồ trang sức của Lê. Tuy nhiên, ông Linh thừa nhận có việc đã được Lê “gửi lại” 12,8 triệu đồng vì theo đề nghị của Lê thì số tiền này trả lại cho Chi hội phụ nữ số 5, phường Chương Dương. Do đó, ông Linh đã mời đại diện Chi hội phụ nữ số 5 lên nhận số tiền này có sự chứng kiến của Lê. Việc này có lập biên bản nhưng ông Linh “chưa đưa vào hồ sơ vụ án”.

Nguồn:http://baophapluat.vn/xa-lo-phap-luat/bat-thuong-quanh-vu-vo-tu-thu-ban-chong-o-ha-noi-403785.html

Vụ án ‘vợ bắn chồng’ ở Hà Nội: Nhiều mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án

 

Như  đã thông tin, Lê Ngọc Lê bị khởi tố để điều tra về tội ‘giết người’ ngày 18/6/2015. Vụ án được cho xảy ra tại số nhà 671 Hồng Hà, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội. Luật sư bào chữa cho bị can Lê đã chỉ ra nhiều điểm bất thường của vụ án.

Vụ án ‘vợ bắn chồng’ ở Hà Nội: Nổ súng vì sợ bị đánh?

Quá trình giải quyết vụ án, CQCSĐT Công an TP Hà Nội đã ra Bản kết luận điều tra vụ án số 124/KLĐT/PC45 – Đ3 ngày 16/2/2016, Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án số 131/KLĐT/PC45 – Đ3 ngày 13/6/2016, Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án số 93/KLĐT/PC45 – Đ3 ngày 28/04/2017, Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án số 177/KLĐT/PC45 – Đ3 ngày 10/10/2017. Các Bản kết luận điều tra vụ án đều kết luận bị can Lê Ngọc Lê can tội giết người, quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.

mau-thuan-ho-so-vu-an

Ls. Lê Đình Việt giải thích những mẫu thuẫn trong hồ sơ vụ án “vợ bắn chồng”

Trao đổi với PV, Luật sư Lê Đình Việt (Công ty Luật TNHH Minh Tín, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) – người bào chữa cho Lê Ngọc Lê, cho biết:

Sau khi nghiên cứu kỹ Kết luận điều tra của Công an TP Hà Nội và Cáo trạng của VKSND TP Hà Nội, đồng thời đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật, tôi nhận thấy việc khởi tố và truy tố bị can đối với Lê Ngọc Lê về tội giết người là không đúng, trái với quy định của pháp luật. Dấu hiệu khởi tố, truy tố oan sai cho bị can là rất rõ, cụ thể:

Việc xác định tư cách “người bị hại” của anh Trương Hữu Tiến ngay từ khi chưa khởi tố vụ án thể hiện sự thiếu khách quan.

Căn cứ vào đơn trình báo của Lê Ngọc Lê đề ngày 31/12/2014, biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm ngày 31/12/2014 của Công an phường Chương Dương, cho thấy: Ngay sau khi có sự việc nổ súng xảy ra tại số nhà 671 Hồng Hà, khi có điều kiện và cơ hội chạy thoát ra ngoài, Lê Ngọc Lê đã đến ngay Công an phường Chương Dương để trình báo sự việc.

Thời điểm Lê có mặt tại trụ sở Công an phường để trình báo là 20h30 ngày 31/12/2014. Đơn trình báo của Lê có nội dung: khoảng 20h ngày 31/12/2014, khi Lê đang nằm xem ti vi ở nhà thì bị chồng và con dùng súng bắn gây thương tích.

Căn cứ vào đơn trình báo của anh Trương Hữu Tiến đề ngày 31/12/2014, biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm ngày 31/12/2014 (của Công an phường Chương Dương cho thấy: thời điểm anh Trương Hữu Tiến có mặt tại trụ sở Công an phường để trình báo là 20h45 ngày 31/12/2014. Đơn trình báo của anh Tiến có nội dung: khoảng 20h ngày 31/12/2014, khi Tiến đi làm về đến nhà thì bị Lê sử dụng súng bắn về phía mình.

Như vậy, nội dung sự việc có thể chưa rõ, nhưng việc Lê Ngọc Lê đến trình báo đầu tiên là đã rõ, Lê đến Công an trình báo được 15 phút thì anh Tiến mới đến.

Mặc dù chưa xác minh để làm rõ, chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra, nhưng ngay tại thời điểm tiếp nhận đơn trình báo của anh Tiến (Biên bản ghi lời khai hồi 21h ngày 31/12/2014, Biên bản ghi lời khai hồi 23h ngày 31/12/2014), Công an phường Chương Dương đã xác định tư cách tham gia tố tụng của anh Trương Hữu Tiến là bị hại và toàn bộ quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm ngày 31/12/2014 đến nay, anh Trương Hữu Tiến luôn được xác định là “người bị hại” trong vụ án. Trong khi đó, Lê Ngọc Lê được xác định tư cách tố tụng là“người liên quan”, “người bị tạm giữ”, “bị can”…

Ở đây, rõ ràng đã có sự “phân biệt đối xử” ngay từ khi tiếp nhận thông tin về vụ việc. Đáng lẽ, khi thông tin chưa được kiểm chứng, đặc biệt trong vụ án này, các thông tin là trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau thì để đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách khách quan, đúng pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định tư cách tham gia tố tụng của Trương Hữu Tiến trước khi khởi tố bị can đối với Lê Ngọc Lê là “người liên quan”.

Việc ngay từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, tin tố giác đã xác định anh Trương Hữu Tiến là “người bị hại” là trái với quy định của pháp luật, làm mất đi sự bình đẳng trong quan hệ pháp luật hình sự. Chính từ sự không bình đẳng này đã dẫn tới tình trạng thiếu khách quan trong các giai đoạn tiếp theo.

Trong quan hệ pháp luật hình sự, do có “người bị hại” tất yếu sẽ phải có “người gây thiệt hại”. Trương Hữu Tiến và Lê Ngọc Lê là những bên trong một quan hệ pháp luật đối lập về lợi ích, khi Trương Hữu Tiến được xác định tư cách là “người bị hại” thì đương nhiên, không còn cách nào khác sẽ dẫn đến tình trạng suy diễn Lê Ngọc Lê là “người gây thiệt hại”, là bị can, là bị cáo…

Cũng theo hồ sơ vụ án, tôi khẳng định không có căn cứ chứng minh khẩu súng thu giữ được trong vụ án là của Lê Ngọc Lê

Tại đơn xin tự thú ngày 03/01/2015, biên bản về việc người phạm tội ra tự thú hồi 19h30 ngày 03/01/2015, các bản kiểm điểm, các biên bản ghi lời khai trong khoảng thời gian từ chiều ngày 03/01/2015 đến ngày 05/01/2015 tại Công an quận Hoàn Kiếm, Lê khai với nội dung: Khẩu súng Lê sử dụng để bắn là súng tự chế của Trung Quốc, Lê mua ở cửa khẩu Tân Thanh – Lạng Sơn của một người không quen biết ở chợ cửa khẩu cách thời điểm sử dụng khoảng 01 tuần. Mua súng với giá 07 triệu đồng.

Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản tạm giữ đồ vật, biên bản kiểm tra điện thoại, báo cáo chi tiết lịch sử các số điện thoại được xác định của Lê sử dụng, có đủ cơ sở để chứng minh Lê Ngọc Lê không đi Lạng Sơn, không đến cửa khẩu Tân Thanh – Lạng Sơn vào khoảng thời gian từ ngày 30/11/2014 đến ngày 31/12/2014.

Ngoài lời khai của anh Trương Hữu Tiến với nội dung Lê dùng súng bắn về phía mình thì không có bất kỳ một chứng cứ nào khác để chứng minh khẩu súng thu được tại hiện trường vụ án là của Lê Ngọc Lê.

Tuy nhiên, lời khai của anh Tiến cũng mâu thuẫn với lời khai của Lê. Bản thân Lê Ngọc Lê cũng nhiều lần khai với nội dung: “Sơn cầm trong tay 01 khẩu súng nhỏ, ngắn giống khẩu súng mà trước đó chồng tôi đã dùng để đe dọa tôi. Đây là khẩu súng mà chồng tôi có từ trước khi kết hôn với tôi”.

Trong mối quan hệ pháp luật này, không thể bên trọng, bên khinh, nên lời khai của Lê về việc khẩu súng là của anh Tiến cũng cần được xem xét làm rõ. Như vậy, không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh khẩu súng “tang vật” của vụ án là của Lê Ngọc Lê.

Ngoài những vấn đề trên, còn nhiều bất thường khác trong hồ sơ vụ án về việc Lê có khả năng sử dụng súng tại thời điểm được cho là bắn anh Tiến hay không; hiện trường vụ án có dấu hiệu xáo trộn, được sắp đặt lại…

Được biết, theo dự kiến, ngày 31/7, TAND TP Hà Nội sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án này. Hy vọng, mọi uẩn khúc sẽ được làm sáng tỏ trong phiên tòa sắp tới.

Nguồn:http://phunuvietnam.vn/luat-doi/vu-an-vo-ban-chong-o-ha-noi-nhieu-mau-thuan-trong-ho-so-vu-an-post45939.html

Vụ án ‘vợ bắn chồng’ ở Hà Nội: Nổ súng vì sợ bị đánh?

 

Cho rằng người vợ sợ bị đánh nên dùng súng bắn chồng, Công an TP Hà Nội và Viện KSND TP Hà Nội đã cáo buộc người vợ tội Giết người. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện nhiều mâu thuẫn và có lẽ vì vậy, vụ án đã kéo dài gần 4 năm với nhiều lần điều tra đi, điều tra lại nhưng vẫn chưa thể đưa ra xét xử.

Theo cáo trạng của Viện KSND TP Hà Nội, anh Trương Hữu Tiến (SN 1964) kết hôn với Lê Ngọc Lê (SN 1976) vào năm 1995 tại xã Xuân Canh (huyện Đông Anh, Hà Nội). Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại số nhà 671 Hồng Hà, phường Chương Dương, Q.Hoàn Kiếm (Hà Nội) cùng con trai Trương Anh Sơn (SN 1996).

Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Ngày 20/12/2012, chị Lê đã gửi đơn đến TAND quận Hoàn Kiếm yêu cầu được ly hôn với anh Tiến.

cao-trang
Một số bản kết luận điều tra, cáo trạng của vụ án này

Trong quá trình chờ tòa án giải quyết, từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, Công an phường Chương Dương đã nhiều lần lập biên bản hòa giải và biên bản cảm hóa giáo dục Trương Hữu Tiến, Lê Ngọc Lê và Trương Anh Sơn về việc mâu thuẫn gia đình…

Khoảng 20h ngày 31/12/2014, Lê đang nằm xem tivi tại tầng 1 thì thấy anh Tiến đi làm về mở cửa bước vào nhà rồi khóa cửa lại. Lê thấy anh Tiến cầm một đoạn tuýp sắt, do sợ anh Tiến đánh nên Lê lấy khẩu súng trong túi nylon để ở đầu đệm nơi Lê nằm bắn về phía anh Tiến. Súng nổ 1 phát nhưng không trúng người anh Tiến. Anh này lao vào thì Lê tiếp tục bắn 1 phát nữa nhưng đạn không nổ.

Anh Tiến áp sát vào Lê và 2 bên vật lộn, khẩu súng bị văng xuống sàn nhà. Trong lúc giằng co, anh Tiến gọi con trai: “Sơn ơi cứu bố, mẹ mày dùng súng bắn bố”. Sơn đang chơi điện tử ở tầng 2 chạy xuống thấy bố mẹ đang vật lộn trong nhà, anh Tiến bảo Sơn mở cửa chạy ra ngoài nhờ người đến giúp.

Sơn mở cửa chạy ra ngoài nhưng chưa tìm được ai thì anh Tiến cũng bỏ chạy ra ngoài đến Công an phường Chương Dương trình báo. Sau đó, Lê cũng chạy ra ngoài đến công an trình báo mình bị anh Tiến và Sơn bắn. Lê được công an đưa đến Bệnh viện Thanh Nhàn cấp cứu vì có một vết thương ở đầu, chảy nhiều máu…

Trong quá trình điều tra, tại Công an phường Chương Dương, Lê khai khi anh Tiến về đến nhà, gọi Sơn lúc đó đang ở trên tầng 2: “Sơn ơi, cầm cái đó xuống làm đi”. Sơn đi xuống giữa cầu thang, giơ tay lên thì Lê nghe thấy tiếng nổ, Lê ngất đi, lúc tỉnh dậy nhưng vẫn nằm im thì nghe anh Tiến hỏi Sơn: “Nó chết chưa?”, Sơn nói: “Chết rồi, thấy nằm im, máu ra nhiều”. Anh Tiến nói: “Mày bắn một phát về phía bố rồi ra công an khai là mẹ bắn bố rồi tự sát”.

Sau đó, Lê nghe có tiếng nổ và anh Tiến hô: “Sơn ơi, nó có súng bắn bố”. Lê nằm im nhắn tin cho anh Lê Nguyễn Hiệp, Phó Công an phường Chương Dương, với nội dung “anh ơi cứu em, con em nó bắn em, em đang phải nằm im giả chết ở nhà”. Khi nghe tiếng mở cửa, Lê chạy ra ngoài và nhờ người đưa đến công an phường trình báo.

Ngày 3/1/2015, Lê đến Công an quận Hoàn Kiếm đầu thú và khai nhận: Lê và anh Tiến có mâu thuẫn trong việc giải quyết ly hôn từ năm 2012 (tranh chấp việc chia nhà). Lê hay bị anh Tiến đánh nên trước khi xảy ra sự việc khoảng 1 tuần, Lê tìm và mua khẩu súng và 6 viên đạn ở Tân Thanh (Lạng Sơn) của một người đàn ông không quen biết và cất ở đầu chỗ nằm.

Ngày 31/12/2014, khi thấy anh Tiến về có cầm theo 1 tuýp sắt, Lê cho rằng anh Tiến sẽ đánh mình nên dùng súng bắn vào cửa về phía anh Tiến nhưng không nhằm trực tiếp vào chồng để dọa anh Tiến, không có mục đích sát thương. Khi anh Tiến lao vào Lê, Lê tiếp tục bắn phát thứ 2 nhưng đạn không nổ…

Mặc dù trong quá trình điều tra, Lê liên tục thay đổi lời khai và không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng Viện KSND TP Hà Nội cho rằng: Căn cứ vào biên bản đầu thú, căn cứ vào kết quả giám định, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với lời khai của anh Tiến, cháu Sơn; phù hợp với lời khai của nhân chứng… nên có đủ cơ sở kết luận Lê Ngọc Lê có hành vi phạm tội giết người.

Liệu có đúng Lê Ngọc Lê đã có những hành vi bắn chồng mình như cáo buộc của Viện KSND TP Hà Nội? Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, chúng tôi thấy có rất nhiêu mâu thuẫn chưa được làm rõ.

Nguồn: http://phunuvietnam.vn/luat-doi/vu-an-vo-ban-chong-o-ha-noi-no-sung-vi-so-bi-danh-post45887.html

Vụ “Buôn bán trái phép chất ma túy” ở Uông Bí: Nhiều dấu hiệu của việc “gán tội”?

 

Ngày 02.10/2017, vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” của cháu Đỗ văn Trung được TAND Thành phố Uông Bí đưa ra xét xử với những lỗi vi phạm nghiêm trọng, Luật sư Lê Đình Việt – Giám đốc Công ty Luật TNHH Minh Tín đã trực tiếp tiến hành bào chữa cho cháu Đỗ Văn Trung. Cơ quan cảnh sát điều tra và VKSND TP Uông Bí đã có những quyết định, hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật TTHS, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bản án tuyên bất chấp dù đã được  nhiều cơ quan báo chí đưa tin, với những vi phạm nghiêm trọng.

Báo PLVN, thanhtravietnam.vn đã có loạt bài phản ánh về những vi phạm tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an TP Uông Bí trong quá trình bắt giữ và điều tra , Công ty Luật TNHH Minh Tín xin trích dẫn một số bài viết cho bạn đọc để nắm được nội dung vụ án :

>> http://baophapluat.vn/ban-doc/vu-buon-ban-trai-phep-chat-ma-tuy-o-uong-bi-nhieu-dau-hieu-cua-viec-gan-toi-353543.html

>> http://thanhtravietnam.vn/xa-hoi/pho-thu-truong-va-dieu-tra-vien-co-quan-csdt-uong-bi-vi-pham-to-tung-176530

Quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp có hiệu lực ngày 1-9

  Quy định của Pháp luật về vấn đề điều chỉnh lương hưu, trợ cấp

  Theo đó, từ ngày 1/9, mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ xã, phường, thị trấn bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng trong thời gian từ ngày 1/1/2015 đến trước ngày 1/5/2016 được tăng thêm 8%.

điều chỉnh lương hưu

Điều chỉnh lương hưu theo quy định Pháp luật

  Cách tính lương hưu đã được điều chỉnh như sau:
  Mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng mới = Mức lương hưu, trợ cấp hiện hưởng x 1,08

  Nếu sau khi được điều chỉnh mức hưởng theo quy định trên mà có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng vẫn thấp hơn 2.000.000 đồng/tháng thì mức hưởng được điều chỉnh như sau:
  + Đối với người có mức lương hưu từ 1.750.000 đồng/tháng trở xuống:
Mức lương hưu sau điều chỉnh = Mức lương hưu trước điều chỉnh + 250.000 đồng/tháng
  + Đối với người có mức lương hưu từ trên 1.750.000 đồng/tháng đến dưới 2.000.000 đồng/tháng:
Mức lương hưu sau điều chỉnh = 2.000.000 đồng/tháng
 + Đối với người có mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng từ 1.850.000 đồng/tháng trở xuống:
Mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng sau điều chỉnh = Mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng trước điều chỉnh + 150.000 đồng/tháng
  + Đối với người có mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng từ trên 1.850.000 đồng/tháng đến dưới 2.000.000 đồng/tháng:
Mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng sau điều chỉnh = 2.000.000 đồng/tháng
  + Đối với giáo viên mầm non có mức lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở: giáo viên mầm non có thời gian làm việc trong cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 1/1/1995, đang hưởng lương hưu trước ngày 1/1/2016 hoặc bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ ngày 1/1/2016 đến 31/12/2016. Nếu mức lương hưu sau khi đã được điều chỉnh thêm 8% mà vẫn thấp hơn 1,15 triệu đồng thì được điều chỉnh bằng 1,15 triệu đồng/tháng (áp dụng cho khoảng thời gian từ ngày 1/1/2016 đến 30/4/2016). Thấp hơn 1,21 triệu đồng thì được điều chỉnh bằng 1,21 triệu đồng/tháng (áp dụng cho khoảng thời gian từ ngày 1/5/2016 trở đi).

  Trên đây là quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp có hiệu lực từ ngày 1/9/2016. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín giúp ích được cho bạn đọc trong việc cập nhập các quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

L.Thanh

Chính sách mới hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

  Chính sách mới nổi bật hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có hiệu lực từ tháng 9/2016

  Từ ngày 01/9/2016, Nghị định 116/2016/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn sẽ bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, mức hỗ trợ mới đối với các đối tượng được hưởng chính sách nêu trên như sau:

– Hỗ trợ tiền ăn bằng 40% mức lương cơ sở/ tháng/ học sinh, tiền nhà bằng 10% mức lương cơ sở/ tháng/ học sinh nếu phải tự túc chỗ ở và 15kg gạo/ tháng/ học sinh. Các mức hỗ trợ không quá 9 tháng/năm/học sinh.

– Trường phổ thông dân tộc bán trú tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh được hỗ trợ kinh phí phục vụ việc nấu ăn cho học sinh theo định mức khoản kinh phí tối thiểu bằng 135% mức lương cơ sở/ tháng/ 30 học sinh. Số dư từ 15 học sinh trở lên được tính thêm một lần định mức. Mỗi trường được hưởng không quá 05 lần định mức/tháng và không quá 9 tháng/năm hỗ trợ gạo.

hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Chính sách mới hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

  2. Tăng cường xử lý sau kiểm tra đấu thầu

  Đây là nội dung nổi bật được đề cập tại Thông tư 10/2016/TT-BKHĐT quy định chi tiết việc giám sát, theo dõi và kiểm tra hoạt động đấu thầu.

  Theo đó, nếu đơn vị được kiểm tra có sai sót hoặc vi phạm trong hoạt động đấu thầu, cần có thời gian để khắc phục thì đơn vị chủ trì kiểm tra có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện kết luận kiểm tra (KLKT).

  Người đứng đầu đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện KLKT và báo cáo phản hồi về tình hình thực hiện KLKT đó.

  Tổ chức, cá nhân thuộc đơn vị được kiểm tra và tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện KLKT mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời thì có thể bị xử lý theo các hình thức:

– Xử phạt vi phạm hành chính.

– Xử lý kỷ luật.

– Truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Bồi thường theo quy định của pháp luật nếu gây thiệt hại.

  Thông tư số 10/2016/TT-BKHĐT có hiệu lực từ ngày 9/9/2016.

  3. Quy định về kỳ thi thăng hạng của viên chức TNMT

  Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BTNMT-BNV quy định về kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tài nguyên – môi trường (TNMT) sẽ có hiệu lực từ ngày 1/9/2016.

  Theo đó, viên chức chuyên ngành TNMT được miễn thi môn ngoại ngữ khi có một trong các điều kiện sau:

– Từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nam và từ đủ 50 tuổi trở lên đối với nữ tính đến thời điểm thông báo nộp hồ sơ dự thi.

– Đang làm việc ở vùng dân tộc thiểu số, có chứng chỉ đào tạo tiếng dân tộc thiểu số do cơ sở đào tạo cấp theo thẩm quyền.

– Là người dân tộc thiểu số đang làm việc ở vùng dân tộc thiểu số.

– Có bằng tốt nghiệp đại học thứ hai là bằng ngoại ngữ.

– Có bằng tốt nghiệp theo trình độ đào tạo hoặc ở trình độ cao hơn so với quy định của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp thi thăng hạng mà học tập ở nước ngoài hoặc học bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam.

  Ngoài ra, Thông tư liên tịch 13 còn quy định viên chức được miễn thi môn tin học nếu đã tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên.

  Trên đây là quy định, chính sách mới hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín giúp ích được cho bạn đọc trong việc cập nhập các quy định, chính sách hỗ trợ trẻ em nghèo.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Chính sách mới về vấn đề tăng lương hưu, trợ cấp (phần 1)

Chính sách mới quy định về vấn đề tăng lương hưu, trợ cấp hàng tháng có hiệu lực từ tháng 9/2016

  Thông tư 23/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu và trợ cấp sẽ bắt đầu có hiệu lực từ 1-9.
  Theo đó, mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ xã, phường, thị trấn bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng trong thời gian từ ngày 1-1-2015 đến trước ngày 1-5-2016 được tăng thêm 8%.
  Đối với giáo viên mầm non có thời gian làm việc trong cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 1-1-1995, đang hưởng lương hưu trước ngày 1-1-2016 hoặc bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ ngày 1-1-2016 đến 31-12-2016, nếu mức lương hưu sau khi đã được điều chỉnh thêm 8% mà vẫn thấp hơn 1,15 triệu đồng thì được điều chỉnh bằng 1,15 triệu đồng/tháng (áp dụng cho khoảng thời gian từ ngày 1-1-2016 đến 30-4-2016); thấp hơn 1,21 triệu đồng thì được điều chỉnh bằng 1,21 triệu đồng/tháng, áp dụng cho khoảng thời gian từ ngày 1-5-2016 trở đi.
  Hỗ trợ đào tạo nghề luật sư cho xã nghèo
  Viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo nghề luật sư và cam kết làm việc trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý tại địa phương ít nhất 2 năm kể từ khi đi đào tạo về sẽ được hỗ trợ đào tạo nghề luật sư.
Mức hỗ trợ là 80 triệu đồng/lớp/trung tâm/năm; hỗ trợ thiết lập đường dây nóng về trợ giúp pháp lý: 20 triệu đồng/trung tâm; chi phí tổ chức các đợt truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở (chi cho báo cáo viên, chi công tác phí, chi hành chính và các chi phí khác theo quy định) là 2 triệu đồng/xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn/lần/năm…
  Quyết định 32/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo… có hiệu lực từ ngày 22-9.
  Công chức quản lý thị trường đi kiểm tra kinh doanh phải có thẻ
  Công chức quản lý thị trường đã được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và không trong thời gian bị kỷ luật sẽ được cấp thẻ kiểm tra thị trường. Thẻ có thời hạn sử dụng năm năm kể từ ngày được cấp.
  Trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ mà chưa có quyết định xử lý; tham mưu, ban hành quyết định trái pháp luật; đang trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo; bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam…, công chức sẽ bị tạm đình chỉ sử dụng thẻ kiểm tra thị trường.
  Pháp lệnh Quản lý thị trường số 11/2016/UBTVQH13 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 8-3-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-9 quy định.
  Thời hạn của Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng
  Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng có thời hạn 5 năm. Khi hết thời hạn, cá nhân có nhu cầu hoạt động xây dựng phải làm thủ tục cấp lại chứng chỉ hành nghề theo quy định.
  Đối với chứng chỉ hành nghề đã được cấp trước ngày 1/9/2016, được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết hạn; trường hợp không ghi thời hạn hiệu lực, được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 30/6/2018.
  Riêng với người nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam dưới 6 tháng, được sử dụng chứng chỉ hành nghề do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp, nhưng phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch ra tiếng Việt và được công chứng, chứng thực theo quy định.
  Thông tư 17/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng có hiệu lực thi hành từ ngày 1-9 quy định.

  Sửa đổi quy định về xếp lương đối với sĩ quan quân đội
  Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam và sĩ quan công an nhân dân đã giữ cấp bậc quân hàm/cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ hiện đảm nhiệm, hoàn thành nhiệm vụ, đủ tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sức khỏe thì được xét nâng lương.
  Thời hạn xét nâng lương của cấp bậc quân hàm/cấp bậc hàm đối với cấp tướng, cấp tá và đại úy là 4 năm; đối với thượng úy là 3 năm.
  Ngoài ra,giảng viên cao cấp được bổ nhiệm chức danh giáo sư, nếu chưa xếp bậc cuối cùng của chức danh giảng viên cao cấp thì giảng viên đó được xếp lên 1 bậc trên liền kề từ ngày được bổ nhiệm chức danh giáo sư, thời gian xét nâng bậc lương lần sau kể từ ngày giữ bậc lương cũ.
  Trường hợp đã xếp bậc cuối cùng của chức danh giảng viên cao cấp thì được cộng thêm 3 năm để tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung kể từ ngày ký quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư.
  Nghị định 117/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, có hiệu lực từ ngày 15/9 quy định.
Còn tiếp…

Theo L.THANH
Nguồn tin: “phapluattp.vn”

Quy định mới về cấp phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ

  Về việc xây dựng nhà ở riêng lẻ, Thông tư 15 bổ sung yêu cầu “phải có bản cam kết của chủ đầu tư bảo đảm an toàn đối với công trình xây dựng có công trình liền kề” ngoài các tài liệu theo quy định bắt buộc.

cấp phép xây dựng

Quy định mới về cấp phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ

  Cụ thể, hồ sơ đề nghị cấp phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ ngoài bản cam kết còn bao gồm: đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng; bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất.

  Bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt gồm: bản vẽ mặt bằng công trình trên lô đất tỉ lệ 1/50 – 1/500 kèm theo sơ đồ vị trí công trình; bản vẽ mặt bằng các tầng, các mặt đứng và mặt cắt chính của công trình tỉ lệ 1/50 – 1/200; bản vẽ mặt bằng móng tỉ lệ 1/50 – 1/200 và mặt cắt móng tỉ lệ 1/50 kèm theo sơ đồ đấu nối hệ thống thoát nước mưa, xử lý nước thải, cấp nước, cấp điện, thông tin tỉ lệ 1/50 – 1/200.

  Đối với công trình xây chen có tầng hầm, ngoài các tài liệu quy định trên, hồ sơ còn phải bổ sung bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính văn bản chấp thuận biện pháp thi công móng của chủ đầu tư đảm bảo an toàn cho công trình và công trình lân cận.

  Phải có bản cam kết của chủ đầu tư bảo đảm an toàn đối với công trình xây dựng có công trình liền kề. Về việc sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng, Thông tư 15 quy định hồ sơ đề nghị cấp GPXD đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo gồm: đơn đề nghị cấp giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình, nhà ở, theo mẫu; bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính một trong những giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu, quản lý, sử dụng công trình, nhà ở hoặc bản sao GPXD đã được cấp (quy định hiện hành yêu cầu phải nộp bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy tờ về quyền sử dụng đất).

  Bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính bản vẽ hiện trạng của bộ phận, hạng mục công trình sửa chữa, cải tạo đã được phê duyệt theo quy định có tỉ lệ tương ứng với tỉ lệ các bản vẽ của hồ sơ đề nghị cấp phép sửa chữa, cải tạo và ảnh chụp (10 x 15 cm) hiện trạng công trình và công trình lân cận trước khi sửa chữa, cải tạo.

  Đối với các công trình di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh đã được xếp hạng, thì phải có bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp.

  Trên đây là quy định mới về cấp phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín giúp ích được cho bạn đọc trong việc cập nhập các quy định về cấp phép xây dựng.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

L.Thanh
Nguồn tin: “phapluattp.vn”