PHÁP LUẬT VÀ CUỘC SỐNG - Công ty luật Minh Tín | Tư vấn luật toàn quốc | Dịch vụ luật sư

(English) Hotline

Hotline:
      Miền Bắc                     Miền Nam
45737657_181290969478408_300901916949348352_n0902.267.116     45737657_181290969478408_300901916949348352_n0932.103.586 

Chào mừng quý khách ghé thăm website Công ty Luật Minh Tín

PHÁP LUẬT VÀ CUỘC SỐNG

Cách tính 2/3 của một suất thừa kế theo Pháp Luật

  Khi người thân mất đi thì tài sản thừa kế được tính như thế nào? Cùng Luật Minh Tín tìm hiểu cách tính một suất thừa kế theo quy định của Pháp luật.

  Thừa kế là gì? Hiệu lực của thừa kế? sẽ được làm rõ tại đây. Continue Reading →

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cần những điều kiện gì?

  Được làm cha, mẹ là hạnh phúc của tất cả mọi người. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau mà có một số cặp vợ chồng không thể tự mình mang thai. Nhờ khoa học kỹ thuật trong ngành y ngày càng phát triển, hình thức mang thai hộ đã được ra đời. Dù đây là vì mục đích nhân đạo, nhưng trên thực tế có nhiều đối tượng lợi dụng cách thức này để thực hiện các giao dịch thương mại. Do đó, pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những quy định chặt chẽ liên quan đến vấn đề này. Continue Reading →

Thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự

  Khởi kiện vụ án dân sự là cách thức để chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Continue Reading →

Chính sách mới hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

  Chính sách mới nổi bật hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có hiệu lực từ tháng 9/2016

  Từ ngày 01/9/2016, Nghị định 116/2016/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn sẽ bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, mức hỗ trợ mới đối với các đối tượng được hưởng chính sách nêu trên như sau:

– Hỗ trợ tiền ăn bằng 40% mức lương cơ sở/ tháng/ học sinh, tiền nhà bằng 10% mức lương cơ sở/ tháng/ học sinh nếu phải tự túc chỗ ở và 15kg gạo/ tháng/ học sinh. Các mức hỗ trợ không quá 9 tháng/năm/học sinh.

– Trường phổ thông dân tộc bán trú tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh được hỗ trợ kinh phí phục vụ việc nấu ăn cho học sinh theo định mức khoản kinh phí tối thiểu bằng 135% mức lương cơ sở/ tháng/ 30 học sinh. Số dư từ 15 học sinh trở lên được tính thêm một lần định mức. Mỗi trường được hưởng không quá 05 lần định mức/tháng và không quá 9 tháng/năm hỗ trợ gạo.

hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Chính sách mới hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

  2. Tăng cường xử lý sau kiểm tra đấu thầu

  Đây là nội dung nổi bật được đề cập tại Thông tư 10/2016/TT-BKHĐT quy định chi tiết việc giám sát, theo dõi và kiểm tra hoạt động đấu thầu.

  Theo đó, nếu đơn vị được kiểm tra có sai sót hoặc vi phạm trong hoạt động đấu thầu, cần có thời gian để khắc phục thì đơn vị chủ trì kiểm tra có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện kết luận kiểm tra (KLKT).

  Người đứng đầu đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện KLKT và báo cáo phản hồi về tình hình thực hiện KLKT đó.

  Tổ chức, cá nhân thuộc đơn vị được kiểm tra và tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện KLKT mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời thì có thể bị xử lý theo các hình thức:

– Xử phạt vi phạm hành chính.

– Xử lý kỷ luật.

– Truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Bồi thường theo quy định của pháp luật nếu gây thiệt hại.

  Thông tư số 10/2016/TT-BKHĐT có hiệu lực từ ngày 9/9/2016.

  3. Quy định về kỳ thi thăng hạng của viên chức TNMT

  Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BTNMT-BNV quy định về kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tài nguyên – môi trường (TNMT) sẽ có hiệu lực từ ngày 1/9/2016.

  Theo đó, viên chức chuyên ngành TNMT được miễn thi môn ngoại ngữ khi có một trong các điều kiện sau:

– Từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nam và từ đủ 50 tuổi trở lên đối với nữ tính đến thời điểm thông báo nộp hồ sơ dự thi.

– Đang làm việc ở vùng dân tộc thiểu số, có chứng chỉ đào tạo tiếng dân tộc thiểu số do cơ sở đào tạo cấp theo thẩm quyền.

– Là người dân tộc thiểu số đang làm việc ở vùng dân tộc thiểu số.

– Có bằng tốt nghiệp đại học thứ hai là bằng ngoại ngữ.

– Có bằng tốt nghiệp theo trình độ đào tạo hoặc ở trình độ cao hơn so với quy định của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp thi thăng hạng mà học tập ở nước ngoài hoặc học bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam.

  Ngoài ra, Thông tư liên tịch 13 còn quy định viên chức được miễn thi môn tin học nếu đã tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên.

  Trên đây là quy định, chính sách mới hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín giúp ích được cho bạn đọc trong việc cập nhập các quy định, chính sách hỗ trợ trẻ em nghèo.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Giải quyết vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại – một số vướng mắc trong thực tiễn.

Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được quy định trong Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Đây là một loại án có tính chất đặc thù, việc giải quyết các vụ án này ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung của BLTTHS còn phải tuân thủ một số quy định riêng. Thực tiễn xét xử của Tòa án cho thấy, quá trình giải quyết vụ đã nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập dẫn đến sự nhận thức cũng như áp dụng pháp luật chưa thống nhất, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng xét xử.

pp
1.  Một số vướng mắc, bất cập
1.1. Hồ sơ vụ án không có yêu cầu khởi tố của người bị hại
Theo quy định tại Khoản1, Điều 105 BLTTHS thì có 11 trường hợp cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thanh niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Đó là các vụ án về các tội phạm được quy định tại Khoản 1 các Điều 104; 105; 106; 108; 109; 111; 113; 121; 122; 171. Do vậy khi giải quyết vụ án, Thẩm phán phải nghiên cứu xem vụ án mà Viện kiểm sát truy tố có thuộc các trường hợp đã nêu không, nếu có thì phải kiểm tra xem hồ sơ có yêu cầu khởi tố hay không, tính pháp lý của yêu cầu khởi tố cũng như quyết định khởi tố. Trường hợp hồ sơ không có yêu cầu khởi tố của người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) thì vụ án cần được giải quyết như thế nào? Hiện nay có 03 quan điểm về vấn đề trên.
Thứ nhất, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án vì vụ án không có yêu cầu khởi tố của người bị hại nên không đặt ra giải quyết theo quy định của Khoản 1 Điều 105 BLTTHS.
Thứ hai, Thẩm phán triệu tập người bị hại và làm rõ xem họ có yêu cầu khởi tố vụ án hay không, nếu có thì tiếp tục giải quyết, còn nếu không thì đình chỉ vụ án.
Thứ ba, Thẩm phán phải ra quyết định trả hồ sơ bổ sung.

1.2  Yêu cầu khởi tố vụ án có sau khi vụ án đã được khởi tố
Thông thường, khi một hành vi có dấu hiệu là tội phạm xảy ra, các cơ quan tố tụng chưa xác định được ngay hậu quả chính xác của hành vi và lúc này vẫn chưa có yêu cầu của người bị hại nhưng để đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được kịp thời, thuận lợi nên cơ quan có thẩm quyền vẫn ra quyết định khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Sau đó, khi đã xác định được hậu quả của hành vi và thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, cơ quan điều tra triệu tập người bị hại và hướng dẫn họ yêu cầu khởi tố vụ án. Do vậy, dẫn tới có trường hợp yêu cầu khởi tố vụ án có sau khi đã khởi tố vụ án. Việc giải quyết vụ án trên có 02 quan điểm.
Thứ nhất, tiếp tục giải quyết vụ án như trường hợp yêu cầu khởi tố vụ án có trước khi khởi tố vụ án.
Thứ hai, cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

1.3. Trước khi mở phiên tòa phát hiện bị can chỉ phạm tội (hoặc khung hình phạt) truy tố và thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại
Trong một số trường hợp, cơ quan điều tra xác định hành vi của bị can là nghiêm trọng nên khởi tố vụ án mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại; nhưng khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán lại nhận thấy bị can chỉ phạm tội (khung) nhẹ hơn tội (khung) đã bị khởi tố, truy tố và tội (khung) phải có yêu cầu của người bị hại thì mới được khởi tố vụ án. Việc giải quyết vụ việc trên có 02 quan điểm.
Thứ nhất, Thẩm phán triệu tập người bị hại và làm rõ họ có yêu cầu khởi tố vụ án không, nếu có thì tiếp tục giải quyết, còn nếu không thì trả hồ sơ hoặc đình chỉ vụ án.
Thứ hai, vẫn phải mở phiên tòa để xác định hành vi của bị can phạm tội (khung) nào trong quá trình nghị án, khi đó mới xem xét đến vấn đề có yêu cầu khởi tố hay không để quyết định.
Thứ ba, cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung ngay mà không cần hỏi ý kiến của người bị hại.

1.4. Trường hợp người bị hại rút đơn khởi tố
– Thời điểm được rút yêu cầu của người bị hại
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 150 BLTTHS thì khi người yêu cầu rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Ở đây, có một vấn đề đặt ra là đến ngày mở phiên tòa mà phiên tòa không tiến hành được vì các lý do khác nhau và phải hoãn phiên tòa, vậy người bị hại có quyền rút yêu cầu trong thời gian này nữa hay không? Vấn đề này hiện có 02 quan điểm.
Thứ nhất, người bị hại không có quyền rút yêu cầu khởi tố vì ngày mở phiên tòa đã được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử và đến ngày đó người bị hại đã hết quyền rút yêu cầu, việc hoãn phiên tòa là vì lý do khác.
Thứ hai, người bị hại vẫn có quyền rút yêu cầu khởi tố vì mặc dù ngày mở phiên tòa đã được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng nó được hoãn và ngày chính thức mở phiên tòa được ấn định trong quyết định hoãn phiên tòa.
– Trong vụ án đồng phạm có nhiều bị can, người bị hại chỉ rút yêu cầu với một hoặc một số bị can
Thứ nhất, cần đình chỉ vụ án với bị can được rút yêu cầu, các bị can còn lại vẫn giải quyết xét xử.
Thứ hai, vẫn phải giải quyết xét xử với tất cả bị can và bị can nào được rút yêu cầu thì được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

1.5. Sự có mặt của người bị hại
Điều 191 BLTTHS quy định: “Nếu người bị hại vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử”. Đây là quy định chung cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà họ vắng mặt tại phiên tòa thì xử lý như thế nào? Vấn đề này có 02 quan điểm cụ thể:
Thứ nhất, phải hoãn phiên tòa.
Thứ hai, nếu hồ sơ có đầy đủ chứng cứ thể hiện quan điểm của người bị hại thì vẫn có thể tiến hành phiên tòa. Trường hợp chưa đủ chứng cứ thể hiện quan điểm của người bị hại thì hoãn phiên tòa.

1.6. Tại phiên tòa, có căn cứ xác định bị can chỉ phạm tội (hoặc khung hình phạt) nhẹ hơn tội (hoặc khung hình phạt) truy tố và tội (hoặc khung này) phải có yêu cầu của người bị hại thì mới được khởi tố vụ án
Thứ nhất, Hội đồng xét xử hỏi người bị hại trong phần xét hỏi, nếu họ có yêu cầu thì tiến hành phiên tòa theo đúng thủ tục chung, nếu họ không yêu cầu thì vào phòng nghị án thảo luận và ra quyết định đình chỉ vụ án.
Thứ hai, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên tòa cho đến khi nghị án mới xác định hành vi của bị cáo thuộc tội (khung) nào, và nếu chưa có yêu cầu của người bị hại thì quay trở lại phần xét hỏi để hỏi người bị hại, nếu có yêu cầu thì tiếp tục giải quyết, nếu không có yêu cầu thì vào phòng nghị án thảo luận và ra quyết định đình chỉ vụ án (hoặc quyết định yêu cầu điều tra bổ sung).

Giáp Phương

Những oan khuất trong một vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng

I. NỘI DUNG SỰ VIỆC

  Ngày 14/6/2005, vợ chồng ông Nguyễn Văn Tấn ký hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ với Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình. Theo đó, vợ chồng ông dùng tài sản của gia đình mình là nhà và đất tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa để bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn (địa chỉ tại phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm) vay số tiền là 620.000.000đ của Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình. Thời hạn thế chấp tài sản được tính từ ngày Hợp đồng bảo lãnh có hiệu lực cho đến khi Công ty Anh Tuấn trả hết nợ cho khoản vay này.

  Tháng 6/2005, Vietcombank đã cho Công ty Anh Tuấn vay tiền. Đến tháng 6/2006, Công ty Anh Tuấn đã trả nợ xong toàn bộ số tiền đã vay của Vietcombank. Theo quy định tại Điều 3 của hợp đồng bảo lãnh số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ thì thời hạn thế chấp nhà và đất ở đã kết thúc vào thời điểm Công ty Anh Tuấn trả hết nợ (tháng 6/2006).

  Ngày 08/5/2008, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và vợ chồng ông Tấn tiếp tục ký Hợp đồng thế chấp có số Công chứng 1320.2008/HĐTC. Theo đó, ông bà lại sử dụng tài sản là nhà và đất nêu trên để thế chấp nhằm bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn vay vốn tại Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình. Nội dung của Hợp đồng thế chấp thể hiện: Nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay tối đa 2.453.360.000đ; Khoản vay được bảo đảm là khoản vay được hình thành trong tương lai, do Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn sẽ ký tại trụ sở của bên cho vay; Thời hạn thế chấp là 05 năm kể từ ngày Bên được bảo lãnh nhận tiền vay.

tranh chấp tín dụng

Công ty luật Minh Tín hỗ trợ giải quyết tranh chấp tín dụng cho Công ty Anh Tuấn

 Tháng 10/2012, vợ chồng ông Tấn được Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện giữa Ngân hàng Vietcombank và Công ty Anh Tuấn.
  Ngoài những thông tin trên, hồ sơ vụ án còn thể hiện:

  Ngày 25/10/2007, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn ký Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ. Nội dung của Hợp đồng thể hiện Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình thỏa thuận cho Công ty Anh Tuấn vay tiền với hạn mức 5.000.000.000đ; Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 03 quyền sở hữu nhà và sử dụng đất, tổng giá trị 4.147.900.000đ thể hiện tại các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL ngày 17/4/2006, số 07/06/TCBL ngày 16/01/2006, số 86/05/TCBL ngày 14/06/2005. Tính đến ngày 12/3/2008, Ngân hàng đã cho Công ty Anh Tuấn vay 13 lần với tổng số tiền là 6.776.000.000đ.
  Ngày 16/5/2008, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn lập Phụ lục số 01 của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ để thay đổi Điều 2 của Hợp đồng: thời hạn rút vốn vay được tăng từ 180 ngày lên 240 ngày. Dựa vào đó, Ngân hàng tiếp tục cho Công ty Anh Tuấn vay thêm 4 lần với tổng số tiền 3.208.000.000đ.
  Ngày 04/9/2008, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn ký Phụ lục của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ để thỏa thuận thay đổi Điều 6 – Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ. Nội dung của phụ lục là bổ sung biện pháp bảo đảm bằng đưa thêm 02 tài sản vào bảo đảm cho khoản vay là nhà đất của vợ chồng ông Tấn (tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa) theo Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC và nhà đất của vợ chồng ông Bút (tại thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh) theo Hợp đồng thế chấp 1620.2008/HĐTC.

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Vietcombank:

  Do Công ty Anh Tuấn không trả nợ đúng hạn nên Vietcombank đã khởi kiện yêu cầu trả toàn bộ số nợ gốc và lãi là 6.451.913.623đ. Trường hợp Công ty Anh Tuấn không có khả năng thanh toán nợ thì phát mãi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, gồm:- Nhà đất tại thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh của vợ chồng ông Bút. Bên thế chấp phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền nợ gốc là 492.000.000đ và tiền lãi là 424.010.129đ theo Hợp đồng thế chấp có số Công chứng 1620.2008/HĐTC ngày 17/6/2008.- Nhà đất tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa của vợ chồng ông Tấn. Bên thế chấp phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền nợ gốc 2.453.360.000đ và tiền lãi là 2.114.328.234đ theo Hợp đồng thế chấp số Công chứng 1320.2008/HĐTC ký ngày 08/5/2008.II. QÚA TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TÒA ÁN1. Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm – TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm  Tại bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã nhận định:

– Công ty Anh Tuấn còn nợ Vietcombank tính đến hết ngày 28/7/2014 là 6.451.913.623đ (bao gồm: Nợ gốc 3.465.400.000đ; Nợ lãi trong hạn 2.516.523.875đ; Nợ lãi phạt 469.989.748đ).

– Bị đơn đã sử dụng hai tài sản thế chấp của bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay trên là: Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 35 tờ bản đồ số 31 thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh của vợ chồng ông Bút, bà Toan theo hợp đồng thế chấp số 1620.2008/HĐTC ngày 17/6/2008; và toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội của vợ chồng ông Tấn, bà Nghĩa theo Hợp đồng thế chấp sô 1320.2008/HĐTC ngày 08/05/2008. Dựa vào đó HĐXX quyết định xử:

– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vietcombank. Buộc Công ty Anh Tuấn phải trả cho Ngân hàng Vietcombank số tiền 6.451.913.623đ (bao gồm: Nợ gốc 3.465.400.000đ; Nợ lãi trong hạn 2.516.523.875đ; Nợ lãi phạt 469.989.748đ);

– Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Anh Tuấn không trả được nợ thì Vietcombank có quyền yêu cầu ông Nguyễn Văn Tấn, bà Phạm Thị Nghĩa, ông Nguyễn Văn Bút, bà Nguyễn Thị Toan thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh. Vietcombank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm:

+ Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông Bút, bà Toan…

+ Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông Tấn, bà Nghĩa tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa. Gia đình ông Tấn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền là 2.453.360.000đ cộng với số tiền lãi là 2.114.328.234đ. Tổng cộng 4.567.688.234đ.

II. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm

  Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định (xin trích dẫn nguyên văn):

  “Ngày 10/4/2008 Công ty Anh Tuấn có đơn đề nghị Ngân hàng cho làm thủ tục xuất ngoại tài sản thế chấp là nhà đất của ông Tấn và bà Nghĩa để định giá lại cho sát thị trường, có chữ ký của ông Tấn bà Nghĩa.

  Ngày 8/5/2008 ông Tấn bà Nghĩa đã ký hợp đồng thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền đất nêu trên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của Công ty Anh Tuấn đối với Ngân hàng. Nghĩa vụ được bảo đảm cho khoản vay tối đa là 2.453.360.000đ. Hợp đồng đã được các bên tiến hành công chứng và đăng ký thế chấp theo quy định.

  Như vậy nhà đất đứng tên ông Tấn đã được ông Tấn bà Nghĩa làm thủ tục thế chấp cho ngân hàng bảo đảm cho Công ty Anh Tuấn vay vốn từ năm 2005 và đến năm 2008 ký lại hợp đồng với thỏa thuận tăng giá trị tài sản thế chấp và tăng nghĩa vụ bảo đảm của khoản vay chứ không phải đến năm 2008 ông Tấn bà Nghĩa mới ký hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho công ty Anh Tuấn vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức ngày 25/10/2007.

  Ngày 16/5/2008 Ngân hàng và công ty Anh Tuấn ký phụ lục hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2007 thay đổi điều 2 tăng thời hạn rút vốn lên 240 ngày và thay đổi điều 6 thể hiện tài sản bảo lãnh của bên thứ ba là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông Tấn bà Nghĩa theo hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008.

  Như vậy do hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008 đã tăng giá trị tài sản thế chấp và tăng nghĩa vụ bảo đảm của khoản vay nên việc Công ty và Ngân hàng ký phụ lục này là phù hợp với hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008, việc thay đổi này không làm tăng nghĩa vụ bảo đảm đã được xác định cụ thể trong hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008 nên không làm thiệt hại cho ông Tấn bà Nghĩa. Các hợp đồng bảo lãnh thế chấp ông Tấn bà Nghĩa đã ký tại các thời điểm đều không nêu cụ thể hợp đồng tín dụng mà chỉ xác định giá trị bảo đảm. Sau khi Công ty không trả được nợ ông Tấn đã nhiều lần làm việc với ngân hàng vẫn công nhận và đưa ra cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ cùng với công ty Anh Tuấn và đồng ý phát mại tài sản bảo đảm.”.

  Từ đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định: Xử y án sơ thẩm, bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn Tấn.

III. BẢN ÁN CÓ NHIỀU SAI SÓT NGHIÊM TRỌNG

1. Thứ nhất, cho rằng nhà và đất của gia đình ông Tấn liên tục được thế chấp theo hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ từ năm 2005 đến năm 2008 là không đúng.

  Điều 3 của hợp đồng bảo lãnh quy định về thời hạn thế chấp như sau: “Thời hạn thế chấp tài sản nói trên để bảo lãnh được tính từ ngày Hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản này có hiệu lực cho đến khi Bên vay trả hết nợ (cả gốc, lãi và các chi phí phát sinh – nếu có) cho Bên Ngân hàng”. Căn cứ vào các nội dung của Hợp đồng bảo lãnh nêu trên thì nhà đất của gia đình ông Tấn được thế chấp bắt đầu từ ngày 16/6/2005 (ngày đăng ký giao dịch bảo đảm) và kết thúc vào ngày 30/6/2006 (ngày Công ty Anh Tuấn trả hết nợ và làm thủ tục tất toán với Ngân hàng).

  Ngay cả tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ ngày 25/10/2007 cũng chỉ đề cập đến ba hợp đồng bảo đảm có số lần lượt là 704.2006/HĐBL, 07/06/TCBL, 86/05/TCBL và không đề cập đến hợp đồng có số86/2005/TCBL/NHNTBĐ, không thể nói rằng hợp đồng số 86/05/TCBL là hợp đồng 86/2005/TCBL/NHNTBĐ (có sự khác biệt hoàn toàn về mặt ký hiệu, cả phần số và phần chữ). Cả 03 hợp đồng 704.2006/HĐBL, 07/06/TCBL, 86/05/TCBL đều không được thu thập để đưa vào hồ sơ vụ án.

  Do đó, Hội đồng xét xử cho rằng nhà đất thế chấp từ năm 2005 liên tục đến năm 2008 và để đảm bảo việc trả nợ cho các hợp đồng tín dụng ký giữa Vietcombank và Công ty Anh Tuấn, trong đó có Hợp đồng tín dụng số 03/07/BĐ ngày 25/10/2007 là đã cố ý giải thích sai nghiêm trọng nội dung của hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ ngày 14/6/2005 theo hướng bất lợi cho gia đình ông Tấn và có lợi cho Ngân hàng Vietcombank.

  Không thể coi Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC ngày 08/5/2008 là sự thỏa thuận lại, làm lại hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ ngày 14/6/2005. Bản chất pháp lý thì đây là hai giao dịch hoàn toàn độc lập với nhau, không có tính kế thừa. Cụ thể: hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ là để đảm bảo cho khoản vay 620.000.000đ từ năm 2005, việc thế chấp nhà đất để bảo lãnh đã chấm dứt từ tháng 6/2006; còn Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC ngày 08/5/2008 có hiệu lực kể từ ngày 9/5/2008 (ngày được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Phòng tài nguyên và Môi trường quận Đống Đa) lại để đảm bảo cho một khoản vay khác, sắp phát sinh.

2. Thứ hai, Vietcombank và Công ty Anh Tuấn đã có những thao tác để phù phép để biến tài sản là biện pháp bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng tín dụng mới thành biện pháp bảo đảm bổ sung cho hợp đồng đang thực hiện, rồi từ biện pháp bảo đảm bổ sung bị biến thành biện pháp bảo đảm thay thế để giải nguy cho những chủ tài sản khác.

2.1. Bị phù phép thành biện pháp bảo đảm bổ sung

  Mục đích ban đầu của Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC là để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ cho Công ty Anh Tuấn khi Công ty này vay vốn Ngân hàng bằng một hợp đồng tín dụng trong tương lai mà Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn sẽ thỏa thuận tại trụ sở của Ngân hàng, tại Mục 1.3 của Hợp đồng quy định “Các điều kiện chi tiết về việc vay và cho vay khoản tiền nêu trên sẽ được ghi cụ thể trong các giấy tờ nghiệp vụ ngân hàng mà Bên B và Bên được bảo lãnh sẽ ký tại trụ sở của Bên B.

  Phụ lục ngày 04/9/2008 đã cố ý tạo sự hiểu lầm là tài sản thế chấp theo Hợp đồng số 1320.2008/HĐTC là biện pháp bảo đảm bổ sung cho Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ nhằm mục đích xử lý tài sản của gia đình ông Tấn để thu nợ. Tuy nhiên, có nhiều căn cứ để chứng minh đây không phải là biện pháp bảo đảm bổ sung, thỏa thuận giữa Vietcombank và Công ty Anh Tuấn không có giá trị pháp lý, chẳng hạn:

– Về thời điểm ký: Tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC, Bên thế chấp không biết (và không có nghĩa vụ phải biết) giữa Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn đã ký và đang thực hiện Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ.

– Đối đối tượng được bảo đảm của Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC là một khoản vay mới của Công ty Anh Tuấn tại Ngân hàng trên cơ sở một hợp đồng tín dụng mới sẽ được bên vay và bên cho vay thỏa thuận như quy định tại Mục 1.3 của Hợp đồng “Các điều kiện chi tiết về việc vay và cho vay khoản tiền nêu trên sẽ được ghi cụ thểtrong các giấy tờ nghiệp vụ ngân hàng mà Bên B và Bên được bảo lãnh sẽ ký tại trụ sở của Bên B.”.

– Về giá trị khoản vay được bảo đảm: Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC bảo đảm cho khoản vay ó giá trị tối đa là 2.453.360.000đ, trong khi đó khoản vay theo Hợp đồng số 03/07/HM/NHNT.BĐ là 5.000.000.000đ.

– Về thời điểm thế chấp tài sản: Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC quy định “Thời hạn thế chấp tài sản nói trên là 05 năm được tính từ ngày Bên được bảo lãnh nhận tiền vay”, nên có thể nhận thấy đây là tài sản bảo đảm cho khoản vay mới, tài sản sẽ được thế chấp ngay tại thời điểm Công ty Anh Tuấn nhận được tiền vay. Tại thời điểm ngày 04/9/2008, mọi khoản vay Công ty Anh Tuấn đều nhận được trước đó trên 03 tháng. Nên thời điểm thế chấp không thể bắt đầu từ ngày 04/9/2008 (ngày Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn lập phụ lục).

– Về phạm vi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: việc thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC là để vợ chồng ông Tấn bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn ký và thực hiện một hợp đồng tín dụng mới với Ngân hàng để vay khoản tiền tối đa là 2.453.360.000đ và không liên quan đến những người bảo lãnh khác. Ngân hàng Vietcombank và Hội đồng xét xử cho rằng vợ chồng ông Tấn và vợ chồng ông Bút phải liên đới hoặc cùng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản vay của Công ty Anh Tuấn theo Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ là không đúng.

2.2. Bị biến thành biện pháp bảo đảm thay thế để giải nguy cho những chủ tài sản khác

  Phụ lục hợp đồng lập ngày 04/9/2008 giữa Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn thể hiện việc hai bên thỏa thuận thay đổi Điều 6 – Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ với nội dung là bổ sung biện pháp bảo đảm bằng đưa thêm 02 tài sản vào bảo đảm cho khoản vay là nhà đất của vợ chồng ông Tấn theo Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC và nhà đất của vợ chồng ông Bút theo Hợp đồng thế chấp số 1620.2008 để đảm bảo cho khoản vay.

  Mặc dù, giữa tài liệu và cách lý giải của Ngân hàng hoàn toàn mâu thuẫn nhưng HĐXX đã chấp nhận một cách vô điều kiện cách giải thích của Ngân hàng và cho rằng ngày 04/9/2008 Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn đã thỏa thuận rút 03 tài sản ra và thay thế vào đó là 02 tài sản của gia đình ông Tấn và gia đình ông Bút.

  Như vậy, có thể thấy mục đích ban đầu của vợ chồng ông Tấn là ký hợp đồng thế chấp để bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn ký hợp đồng tín dụng vay vốn của Ngân hàng, nhưng tài sản của vợ chồng ông Tấn lại được Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn thỏa thuận đưa vào làm biện pháp bảo đảm bổ sung cho khoản vay trước đó. Khi cần xử lý tài sản để thu nợ thì Ngân hàng lại giải thích tài sản của gia đình ông Tấn là biện pháp bảo đảm thay thế để cứu nguy cho chủ của 03 tài sản khác đứng trước nguy cơ phải thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh. Tuy lời khai của đại diện Ngân hàng mâu thuẫn với nội dung của Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC và Phụ lục lập ngày 04/9/2008 nhưng lại được hai cấp tòa thông qua một cách vô điều kiện

3. Thứ ba, bỏ sót người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án để quy trách nhiệm cho những người không có nghĩa vụ

  Tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ có quy định tài sản bảo đảm là 03 quyền sử dụng nhà và đất được thể hiện tại các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL, số 07/06/TCBL, số 86/05/TCBL. Mặc dù lời khai của đại diện Vietcombank là đã rút 03 tài sản bảo đảm này ra và thay bằng 02 tài sản khác nhưng lại mâu thuẫn với nội dung của Phụ lục lập ngày 04/9/2008, không thể hiện 03 tài sản này được rút ra mà chỉ đề cập đến việc đưa thêm 02 tài sản vào để đảm bảo cho khoản vay “Biện pháp bảo đảm bổ sung”.

  Không thể chỉ dựa vào lời khai của đại diện Vietcombank để cho rằng những người bảo lãnh theo các hợp đồng bảo đảm có số 704.2006/HĐBL, 07/06/TCBL, 86/05/TCBL không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án do tài sản bảo đảm đã được rút ra. Sau thời điểm ngày 04/9/2008 khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ vẫn được bảo đảm bằng 03 tài sản theo các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL, số 07/06/TCBL, số 86/05/TCBL, việc Ngân hàng và Hội đồng xét xử đã cùng “miễn” nghĩa vụ cho những người bảo lãnh theo các hợp đồng này và đưa những người khác vào gánh vác nghĩa vụ thay là trái pháp luật.

  Tác giả thiết nghĩ, Hội đồng xét xử không thể vì thiện cảm với Ngân hàng để không đưa những người bảo lãnh theo các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL, số 07/06/TCBL, số 86/05/TCBL vào tham gia tố tụng nhằm miễn mọi nghĩa vụ cho họ và buộc những người khác gánh vác nghĩa vụ thay theo kiểu thế mạng.

Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
LS. Lê Đình Việt

Tư vấn thủ tục kháng cáo

Tư vấn thủ tục kháng cáo – Bản án, quyết định dân sự, kinh doanh thương mại, lao động
1. Đối tượng kháng cáo:

  Đối tượng mà đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm bao gồm: bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

2. Người có quyền kháng cáo: (Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự)

– Đương sự, người đại diện hợp pháp của họ
– Cơ quan, tổ chức khởi kiện.
Cụ thể:
  a. Đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình là đương sự trong vụ án về tranh chấp có liên quan đến hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của đương sự có kháng cáo. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, đương sự đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  b. Đương sự được hướng dẫn tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này, nếu không tự mình kháng cáo, thì có thể uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo, trừ kháng cáo bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về ly hôn. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ của đương sự uỷ quyền kháng cáo và văn bản uỷ quyền. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  c. Đương sự là cơ quan, tổ chức có quyền kháng cáo. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

thủ tục kháng cáo

Tư vấn thủ tục kháng cáo

  Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức uỷ quyền cho người khác đại diện cho cơ quan, tổ chức kháng cáo, thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo; tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức uỷ quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn bản uỷ quyền. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  d. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên (trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này), người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo, thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền và văn bản uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  e. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của BLTTDS là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ. Người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó; họ, tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ. Đồng thời, ở phần cuối đơn, người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
  f. Việc uỷ quyền được hướng dẫn tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản uỷ quyền đó được lập tại Toà án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án được Chánh án Toà án phân công. Trong văn bản uỷ quyền phải có nội dung đương sự uỷ quyền cho người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm.

3. Thời hạn kháng cáo: (Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự).

– Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
– Thời hạn kháng cáo quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
– Nếu đơn kháng cáo gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính là ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.
– Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng

4. Đơn kháng cáo: (Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự)

– Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
+ Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
+ Tên, địa chỉ của người kháng cáo;
+ Kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
+ Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;
+ Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
– Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm.
– Nếu đơn kháng cáo gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.
– Kèm theo đơn kháng cáo là tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

5. Mẫu đơn kháng cáo:

  Mẫu số 01 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
 ĐƠN KHÁNG CÁO
                                                                                                                                 ……, ngày….. tháng …… năm……

Kính gửi: Toà án nhân dân (1) ……………………………………………………………………….
Người kháng cáo: (2) …………………………………………………………………………………………….
Địa chỉ: (3) ………………………………………………………………………………………………………….
Là: (4) ……………………………………………………………………………………………………………..
Kháng cáo: (5)……..…………………………………………….…………….…………………………………..
Lý do của việc kháng cáo: (6)  ……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………..
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây: (7) …………………
…………………………….………………………………………………..………………
Những tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo gồm có: (8)
1……………………………………………………………….……………………
2………………………………………………………………..……………………
3……………………………………………………………….……………………

Người kháng cáo (9)
(Ký tên hoặc điểm chỉ)
Họ và tên

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 01:

  (1) Ghi tên Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án. Nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân huyện nào thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh ĐN); nếu là Toà án nhân dân cấp tỉnh, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội). Cần ghi địa chỉ cụ thể của Toà án (nếu đơn kháng cáo được gửi qua bưu điện).
  (2) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì ghi họ và tên của cá nhân đó; nếu người kháng cáo là cơ quan, tổ chức, thì ghi tên của cơ quan, tổ chức đó (ghi như đơn kháng cáo) và ghi họ và tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Người kháng cáo: Tổng công ty X do ông Nguyễn Văn A, Tổng giám đốc làm đại diện).
  (3) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì ghi đầy đủ địa chỉ nơi cư trú (ví dụ: Địa chỉ: trú tại thôn B, xã C, huyện H, tỉnh T); nếu là cơ quan, tổ chức, thì ghi địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Địa chỉ: có trụ sở tại số 20 phố NP, quận Đ, thành phố H).
  (4) Ghi tư cách pháp lý của người kháng cáo (ví dụ: là nguyên đơn (bị đơn) trong vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Trần Văn Nam trú tại nhà số 34 phố X, quận H, thành phố Y theo uỷ quyền ngày…tháng…năm…; là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty XNK A do ông Nguyễn Văn Nam – Tổng Giám đốc đại diện theo giấy uỷ quyền ngày…tháng…năm…).
  (5) Ghi cụ thể kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần nào của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đó (ví dụ: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2012/DS-ST ngày 15-01-2012 của Toà án nhân dân tỉnh H).
  (6) Ghi lý do cụ thể của việc kháng cáo.
  (7) Nêu cụ thể từng vấn đề mà người kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
  (8) Trường hợp có các tài liệu, chứng cứ bổ sung thì phải ghi đầy đủ tên các tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo (ví dụ: các tài liệu kèm theo đơn gồm có: 1) Bản sao Giấy xác nhận nợ; 2) Bản sao Giấy đòi nợ…).
  (9) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì phải ký tên hoặc điểm chỉ và ghi rõ họ và tên của người kháng cáo đó; nếu là cơ quan, tổ chức kháng cáo, thì người đại điện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức kháng cáo ký tên, ghi rõ họ và tên, chức vụ của mình và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
  (Ví dụ: Người kháng cáo
  Tổng Công ty X
  Tổng Giám đốc
  (Ký tên, đóng dấu)
  Nguyễn Mạnh T