TÌM HIỂU VỀ PHÁP LUẬT - Công ty luật Minh Tín | Tư vấn luật toàn quốc | Dịch vụ luật sư

(English) Hotline

Hotline:
      Miền Bắc                     Miền Nam
45737657_181290969478408_300901916949348352_n0902.267.116     45737657_181290969478408_300901916949348352_n0932.103.586 

Chào mừng quý khách ghé thăm website Công ty Luật Minh Tín

TÌM HIỂU VỀ PHÁP LUẬT

Độc lập xét xử – Một nhu cầu tất yếu

“Không có con đê pháp luật án ngữ thì tự do chỉ là một dòng sông phá hoại” J.b.Say

  Có thể đưa ra nhận định rằng luật pháp trong mọi thời đại luôn là một trong những cứu cánh đối với mỗi quốc gia, là phương thức để bảo đảm sự ổn định và bảo vệ công lý. Ý chí chung của tất cả thành viên trong một xã hội văn minh tạo nên luật pháp, nhưng tự luật pháp không thể hiện thực hóa được sức mạnh của nó. Mà nó phải nhờ đến một thiết chế được coi là thành lũy cuối cùng bảo vệ công lý2 đó là Tòa án, với một phương châm rất thiết thực “Công lý không dựa vào quyền lực thì bất lực, quyền lực không dựa vào công lý thì tàn bạo”

  Quyền lực mà người viết đề cập phần trên là hệ quả từ những phán quyết của Tòa án. Vì vậy, chúng ta hiểu rằng để có được những phán quyết công bằng hợp pháp thì vấn đề độc lập trong việc xét xử của Tòa án phải là yếu tố tiên quyết. “Độc lập” theo từ điển Tiếng Việt nghĩa là tự mình tồn tại, hoạt động, không nương tựa hoặc phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác. Bởi thế cho nên trong hoạt động xét xử, yêu cầu về sự độc lập sẽ là căn cứ đảm bảo cho tính khách quan, vô tư và lẽ công bằng.

độc lập xét xử

Tòa án nhân dân – độc lập xét xử

  Cơ sở pháp lý của nguyên tắc độc lập xét xử tại Việt Nam

  Trước tiên, nguyên tắc trên là một trong số ít nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến Pháp Việt Nam. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.

  Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 với quy định:

  “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

  Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”.

  Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định như sau:

  “1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

  2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, việc giải quyết việc dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào”.

  Điều 9 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định:

  “1. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào.

  2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”.

  Điểm qua các căn cứ pháp lý nêu trên, chúng ta có thể thấy pháp luật Việt Nam khá coi trọng vấn đề độc lập xét xử của Tòa án, từng bước theo xu thế chung của pháp luật thế giới. Bởi nhiều nước phát triển từ lâu đã coi nguyên tắc độc lập của tòa án là một trong những nguyên tắc cốt lõi cho việc bảo vệ công lý như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ…vv. Năm 1748, Montesquieu4 đã đề cập đến mô hình tam quyền phân lập (sự phân quyền của Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp – the Separation of powers) trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của mình, ông khẳng định rằng để đảm bảo sự tự do thì 3 cơ quan này phải hoạt động độc lập theo cơ chế cân bằng, kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau (checks and balances).

phiên tòa độc lập xét xử

Phiên tòa độc lập xét xử

  Vậy, nội dung căn bản về sự độc lập xét xử của Tòa án gồm những gì?

  Thứ nhất, trong xét xử Tòa án phải độc lập với các cơ quan khác. Tòa án là cơ quan độc lập để nhân danh Nhà nước bảo vệ pháp luật cho nên không thể bị áp lực từ phía các cơ quan khác ngay cả cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng bởi luật pháp có tính áp dụng chung, mọi cá nhân, tổ chức đều phải sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, không ai được đứng trên pháp luật. Kim chỉ nam duy nhất để Tòa án căn cứ khi xét xử là các quy định của pháp luật, luôn luôn theo tôn chỉ “Thượng tôn pháp luật”.

  Thứ hai, Tòa án phải độc lập với cơ quan Tòa án cấp trên. Mặc dù về mặt tổ chức thì tòa án địa phương phải chịu sự quản lý của Tòa án nhân dân tối cao, nhưng về mặt xét xử thì tòa cấp dưới phải hoàn toàn độc lập với tòa cấp trên tránh việc chỉ đạo án, chưa xử đã biết nội dung bản án ..vv

  Thứ ba, thành viên của Hội đồng xét xử phải độc lập với nhau. Tầm quan trọng của nguyên tắc này được hiến định tại Khoản 2 và 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 như sau: “2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; 4. Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số”. Sự độc lập của Thẩm phán, Hội thẩm ở đây mới đảm bảo được tính khách quan của bản án, bởi họ là những cá nhân riêng biệt có suy nghĩ và chính kiến của riêng mình dù đó là ý kiến thiểu số hay đa số thì đều được ghi nhận. Việc áp dụng nguyên tắc trên sẽ tránh được sự độc đoán, áp đặt đảm bảo cho phán quyết chung mang tính hợp pháp, có căn cứ. Có lẽ đây chính là ý nghĩa căn bản cho vấn đề có sự tham gia của Hội thẩm trong Hội đồng xét xử.

  Có thể tạm kết với một nhận định rằng “Pháp luật phải giống như cái chết không khoan dung bất kỳ ai” 6 và để hiện thực điều này thì chúng ta phải đặt nguyên tắc độc lập của Tòa án vào đúng vị trí của nó, mọi sự ngụy biện, làm sai lệch nguyên tắc này sẽ là rào cản trong vấn đề cải cách tư pháp, sẽ là bước thụt lùi so với văn minh nhân loại. Người viết chợt nhớ đến biểu tượng đẹp về Nữ thần công lý7 (Lady justice) với: một tay cầm cân – tượng trưng cho sự suy xét cẩn trọng, công bằng; một tay cầm thanh kiếm – tượng trưng cho sức mạnh cưỡng chế; và một dải băng bịt kín đôi mắt – tượng trưng cho sự vô tư, không bị tác động bởi ngoại cảnh.

  Trên đây là những chia sẻ của Luật Minh Tín về độc lập xét xử. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín đưa ra sẽ giúp bạn đọc có kiến thức và hiểu thêm về vấn đề độc lập xét xử.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Vũ Khỏe

1 Nhà kinh tế chính trị Mỹ;

2 Lời của người viết;

3 Câu nói của Pascal- Nhà toán học, vật lý, triết gia người Pháp (1623-1662);

4 Montesquieu- Nhà tư tưởng chính trị người Pháp (1689-1755);

5 Nhấn mạnh tầm quan trọng của pháp luật;

6 Như số 4;

7 Nhân vật nữ được cách điệu trong thần thoại Hy Lạp- biểu tượng cho công lý.

Kinh doanh vận may – Đặt cược thể thao có nên luật hóa?

  Đặt cược thể thao là hình thức giải trí có thưởng mà người tham gia đặt cược thực hiện dự đoán về kết quả có thể xảy ra trong các sự kiện thể thao, được sử dụng để kinh doanh đặt cược. Luật Minh Tín sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu về vấn đề kinh doanh vận may – đặt cược thể thao.

  Hợp pháp hóa đặt cược thể thao là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi trong thời gian qua bởi câu chuyện quản không được thì cấm không thể mãi tồn tại. Dưới góc độ của một mô hình kinh doanh “vận may” thì đặt cược cũng có tính chất tương tự của việc chơi sổ xố kiến thiết, sổ xố điện toán.

  Như vậy, nếu “vận may” là thứ có thể làm ra lợi nhuận thì chắc chắn sẽ được con người vận dụng để kinh doanh. Sổ xố điện toán Vietlot xuất hiện trên thị trường cũng chính là một minh chứng cho việc người chơi được phép đặt cược bằng tiền cho sự may mắn của họ. Vì vậy, cho phép cá cược trong thể thao sẽ tạo ra hành lang pháp lý để chúng ta quản lý nó thay vì cấm đoán và đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật từ vấn đề này.

  Tuy nhiên, làm sao để đặt mô hình kinh doanh “vận may”: “đặt cược thể thao” đi đúng vào khuôn khổ của pháp luật, để nhà nước có cơ sở để kiểm soát, quản lý nguồn thu đến từ hoạt động này? Đó là vấn đề chúng ta cần nắm rõ về lý do luật hoá đặt cược thể thao. Cũng như các tác động của nó đến kinh tế xã hội nói chung, hoạt động thể thao nói riêng.

  Từ ngày 31/03/2017, kinh doanh đặt cược đã được hợp pháp hóa thông qua Nghị định 06/2017/NĐ-CP về kinh doanh đặt cược đua ngựa, đua chó, bóng đá quốc tế.

  Theo đó, thuật ngữ “đặt cược” được hiểu là trò chơi giải trí có thưởng mà người tham gia đặt cược thực hiện dự đoán về kết quả có thể xảy ra trong các sự kiện thể thao, giải trí được sử dụng để kinh doanh đặt cược. Người tham gia dự đoán đúng sẽ được trả thưởng bằng tiền hoặc bằng hiện vật, dịch vụ có thể quy ra thành tiền dựa trên kết quả của sự kiện đó khi kết thúc theo thể lệ đặt cược.

  “Kinh doanh đặt cược” là việc tổ chức, cung cấp sản phẩm đặt cược cho người chơi theo nguyên tắc người chơi bỏ tiền ra mua vé đặt cược và được doanh nghiệp kinh doanh đặt cược trả thưởng khi trúng thưởng theo quy định tại Nghị định này.

  Người chơi “đặt cược thể thao” không đơn thuần chỉ trông vào sự may mắn, mà còn phải cần cả sự đầu tư nghiên cứu, phán đoán, chớp thời cơ…. Người kinh doanh đặt cược cũng không cho rằng đó chỉ là dịch vụ giải trí mà coi đó là một “nghề” làm ra lợi nhuận từ “may mắn” của người đặt cược.

đặt cược thể thao

Kinh doanh vận may – đặt cược thể thao có nên luật hóa?

  Việc luật hoá đặt cược thể thao cấp thiết ra sao?

  “Đặt cược thể thao” được 3/4 các nước trên thế giới cho phép kinh doanh từ hàng chục năm qua. Sự xuất hiện của rất nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực này cho thấy mô hình kinh doanh từ đặt cược đã mang lại nguồn lợi nhuận không hề nhỏ. Những hoạt động mang lại lợi nhuận thì việc đặt chúng dưới sự quản lý, điều chỉnh của pháp luật là điều hết sức cần thiết, cấp bách bởi:

  Thứ nhất, luật hoá “đặt cược thể thao” sẽ tạo khuôn khổ pháp lý để nhà nước có thể kiểm soát các nguồn thu ngân sách khổng lồ đến từ hoạt động này, để phục vụ phúc lợi xã hội, tái đầu tư cho thể thao… Công ty Singapore Pools mỗi năm mang lại lợi nhuận hàng tỷ USD (năm 2013 là hơn 4,5 tỷ USD). Khoản thuế thu từ công ty này được Chính phủ tái đầu tư vào các lĩnh vực xã hội, thể thao và từ thiện. Ngoài ra, Singapore Pools đã đóng góp 14,5 triệu SGD cho Sân vận động Quốc gia (do Hội đồng Thể thao Singapore quản lý) và còn hỗ trợ sân vận động này trả 7,8 triệu SGD tiền vay của Chính phủ. Nguồn thu từ cá cược còn dùng xây dựng và tài trợ hoạt động của Trường Thể thao Singapore (SSS), nơi đào tạo ra nhiều vận động viên của nước này.

  Tại Việt Nam, hoạt động đặt cược được coi là vi phạm pháp luật. Do đó, phần lớn người Việt Nam đều tham gia các kênh đặt cược quốc tế. Tiền của người đặt cược đều vì vậy “chảy ra” nước ngoài gây thất thu lượng lớn tài sản quốc gia. Vào tháng 6/2016, cơ quan công an đã triệt phá hai đường dây đánh bạc qua mạng với số tiền giao dịch gần 7.600 tỷ đồng. Nếu tính với thuế tiêu thụ đặc biệt (30%) và thuế giá trị gia tăng (10%) thì ai nhẩm tính được con số thất thu ngân sách của Nhà nước. Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số rất nhỏ có thể nhìn thấy từ hoạt động “đặt cược thể thao” ở Việt Nam. Vì vậy, kiểm soát hoạt động và các giao dịch đặt từ đặt cược là điều hết sức cấp thiết. Đặc biệt trong bối cảnh công nghệ thông tin đang bùng nổ, toàn cầu hoá đang được đẩy mạnh.

  Thứ hai, hợp pháp hóa “đặt cược thể thao” sẽ đẩy lùi được nạn cá cược chui, giảm thiểu rủi ro cho người chơi. Việc “đặt cược thể thao” là hoạt động phức tạp, có những ảnh hưởng đến an ninh, trật tự nếu không đưa vào khuôn khổ pháp luật.  Hiện nay ở nước ta, mô hình cá cược bóng đá đều là các giao dịch chui nên rất khó tìm ra được người cầm đầu – “nhà cái” do có đội hình bảo kê hùng hậu đứng sau chống đỡ. Người chơi chỉ tiếp cận “nhà cái” thông qua một cuộc điện thoại.  Bằng cách này, người chơi có thể gặp hai trường hợp thiệt thòi: bị “nhà cái” ăn chặn hoặc bị “nhà cái” trở mặt không trả tiền thắng cược. Như vậy, phân tích kỹ hơn thì “ đặt cược thể thao” được luật hoá sẽ đảm bảo việc công khai thông tin các “nhà cái”. Doanh nghiệp kinh doanh đặt cược công khai phương thức, thủ tục tham gia đặt cược, quy tắc trả thắng cược, đảm bảo được trật tự, an ninh xã hội, tạo ra sân chơi lành mạnh, sòng phẳng cho người chơi.

  Thứ ba, như đã nêu, khi số tiền thu được từ việc cá cược thể thao được kiểm soát cũng chính là tạo cơ hội cho sân chơi thể thao nước nhà. Khi một phần khoản tiền thu được sẽ đầu tư ngược lại cho thể thao, thúc đẩy sự phát triển của nó.

  Như vậy, dưới góc độ xã hội thì nhu cầu cá cược trong thể thao là có thật và các quốc gia trên thế giới đều tìm cách khai thác triệt để nhu cầu này. Nên việc cho phép cá cược thể thao là hợp lý. Tuy nhiên, Nghị định 06/2017/NĐ- CP có hiệu lực từ 01/3/2017 quy định về đặt cược đối với một số các hoạt động thể dục, thể thao được phép kinh doanh đặt cược nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Tưởng chừng đây là Nghị định “hợp lòng dân” nhưng không hoàn toàn như vậy, bởi có một số sự bất hợp lý của việc xây dựng pháp luật nhằm hợp pháp hoá việc cá cược đã bộc lộ như sau:

  Thứ nhất, việc đưa ra hạn mức cược ở mức tối đa là 1.000.000 đồng và tối thiểu là 10.000 đồng/ngày được coi là không hợp lý. Bởi thực tế việc cá cược diễn ra từ trước đến nay đều rất đa dạng thậm chí không có giới hạn. Tuy nhiên việc khoá hai đầu của hạn mức cược có thể ảnh hưởng đến phạm vi đặt cược mà nhà nước có thể kiểm soát. Tại Singapore, mức cược tối thiểu là 5 SGD (khoảng 80.000 đồng), không giới hạn mức cược tối đa. Tại Hàn Quốc, việc hạn chế cược ở mức 100.000 won (86 USD) trong 6 lần/ngày đã khiến cho nhiều người phải tìm đến những trang web cá cược chui. Từ đó, hàng trăm trang web khác như thế đã lần lượt ra đời. Như vậy, cần phải thí điểm áp dụng hoặc khảo sát cụ thể để có thể tìm ngưỡng chung trong việc đưa ra hạn mức cược trước khi hợp pháp hoá, thỏa mãn được nhu cầu của người chơi, tránh việc đặt cược chui vẫn tiếp diễn.

  Thứ hai, đặt cược chỉ áp dụng với bóng đá quốc tế. Các quốc gia khác, bóng đá nước nhà được ưu tiên vào danh mục cá cược trước nhằm dễ kiểm soát, làm minh bạch sân chơi bóng đá trong nước. Tuy nhiên, chúng ta lại chọn một hướng đi khác là chỉ cho cá cược bóng đá quốc tế, mà cũng không hề đề cập đến việc khi nào sẽ đưa bóng đá nội vào danh mục cho phép.

  “Đặt cược thể thao” là đề tài nóng trong việc hợp pháp hoá. Nên việc thí điểm áp dụng và khảo sát phương án để luật hoá cho phù hợp là điều cần thiết. Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần phải tuyên truyền rủi ro của việc đam mê cược thể thao. Vì việc cá cược ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều người, nhiều gia đình và xã hội.

  Trên đây là những chia sẻ của Luật Minh Tín về đặt cược thể thao. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín đưa ra sẽ giúp cho bạn đọc về vấn đề kinh doanh vận may, đặt cược thể thao.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Hồng Anh

Bàn về nguyên tắc suy đoán vô tội (On Presumption of innocence)

  “Thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội” 1 đây là một trong những nguyên tắc căn bản trong Luật Tố tụng hình sự của Thụy Điển – quốc gia đi đầu trong việc loại bỏ hình phạt tử hình trên thế giới.

  Trở lại vấn đề nguyên tắc suy đoán vô tội: “Suy đoán vô tội được hiểu là bất kỳ người nào bị cáo buộc trong việc thực hiện tội phạm đều được coi là chưa có tội khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theo trình tự do pháp luật quy định bằng bản án buộc tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” 2. Vậy, tại sao lại có nguyên tắc này và cơ sở của nguyên tắc này từ đâu?

suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội

  Trước hết, theo quan điểm của người viết đây là một nguyên tắc rất nhân bản, tiến bộ của nhân loại. Nó là sự kế thừa và được rút ra từ những thăng trầm của con người trong suốt tiến trình lịch sử. Nhân bản ở chỗ nó giúp bảo vệ giá trị Quyền con người (nhân quyền- human rights) – một quyền bất khả nhượng và bất khả xâm phạm đối với bất cứ ai trên thế giới. Theo sách Tam Tự Kinh3 thì “Nhân chi sơ tính bản thiện” cho rằng bản tính của con người là tính thiện và hướng thiện. Người viết cũng đồng tình với quan điểm này khi đưa ra quan điểm rằng trong việc phán xét, đánh giá một con người thì nên nhìn nhận và đánh giá con người ấy ở tính tốt đẹp của họ trước. Bởi ngay từ khi ra đời họ đã mang trong người tính thiện.

  Cơ sở cho sự ra đời nguyên tắc suy đoán vô tội gồm những gì?

       

nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội – Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

  Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc4 đã thông qua bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tại Khoản 1 Điều 11 có nội dung: “1) Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ”

  Tiếp đến, năm 1966 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cũng thông qua Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Với việc tái khẳng định việc công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng và bất di bất dịch của con người là nền tảng cho tự do, công lý. Khoản 2 Điều 14 của Công ước với nội dung: “2. Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”.

  Tại Việt Nam, tư tưởng của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được thể hiện trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự. Cụ thể, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã quy định như sau:

   “1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

  2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.

         3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

  4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

   5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.

  Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa quy định của Hiến Pháp về nguyên tắc suy đoán vô tội như sau:

  “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

  Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

nguyên tắc suy đoán vô tội

Bàn về nguyên tắc suy đoán vô tội

  Tầm quan trọng của việc nhận thức và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong hoạt động tố tụng

  Thứ nhất, việc thực hiện nguyên tắc này là tiền đề bảo đảm cho những người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của mình. Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc suy đoán vô tội ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự như điều tra, truy tố, xét xử là một trong những điều kiện cho việc phát hiện nhanh chóng chính xác, xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

  Thứ hai, chúng ta cũng nên nhất trí rằng việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hoặc minh oan cho người vô tội cũng quan trọng và có ý nghĩa xã hội như việc xử lý nghiêm minh người có tội.

  Thứ ba, cần phải đưa ra nhận định rằng: coi bị can chưa phải là người có tội thì mới đảm bảo được tính khách quan của điều tra viên, kiểm sát viên trong việc thu thập chứng cứ và làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Nếu coi người bị bắt giữ với tư cách là người bị tình nghi, người bị khởi tố với tư cách là bị can đã là người có tội thì dễ dẫn đến hậu quả là điều tra viên, kiểm sát viên chỉ chú ý đến chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm của người bị bắt giữ và bị can chứ không quan tâm đến việc làm sáng tỏ các chứng cứ gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ. Nếu hội đồng xét xử coi bị cáo là người có tội trước khi mở phiên tòa xét xử thì sẽ không đảm bảo được sự khách quan trong việc đánh giá chứng cứ, đánh giá ý kiến tranh luận của các bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra.

  Thứ tư, việc coi một người là có tội khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa án có nghĩa là đồng nhất các khái niệm người bị tình nghi, bị can, bị cáo, người bị kết án đều là người có tội và đồng nhất biện pháp ngăn chặn với biện pháp hình phạt sẽ dẫn đến sự vô hiệu hóa của việc phân định thẩm quyền tố tụng giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.

  Có thể đi đến kết luận rằng nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc vô cùng quan trọng đối với việc áp dụng pháp luật cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, toàn dân cùng phấn đấu vì mục tiêu xây dựng một nhà nước Pháp quyền, dân chủ thì các biện pháp để bảo vệ quyền con người cần được quan tâm một cách thích đáng.

  Trên đây là những chia sẻ của Luật Minh Tín về nguyên tắc suy đoán vô tội. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín đưa ra sẽ giúp bạn đọc có kiến thức và hiểu thêm về vấn đề nguyên tắc suy đoán vô tội.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Vũ Khỏe

1 Luật tố tụng hình sự Thụy Điển;

2 Theo quan điểm của Luật sư Phạm Hồng Hải;

3 Cuốn sách chữ Hán được soạn từ đời Tống, Trung Quốc;

4 Là một trong 5 cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc.

Đôi điều về pháp luật và báo chí

  Chúng ta có thể nhận thức rằng pháp luật “là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của một quốc gia, khu vực. Được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế”1. Vai trò của pháp luật là duy trì trật tự, ổn định và bảo vệ công lý.

  Về khái niệm báo chí “Báo, hay còn gọi đầy đủ là báo chí xuất phát từ hai từ “báo”- thông báo và “chí”- giấy. Nói một cách khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ nhằm báo cáo về các sự vật, hiện tượng hay con người nổi bật trong ngày mà xã hội cần quan tâm”2. Báo chí có nhiệm vụ phổ biến thông tin đến độc giả, phân tích, phản biện xã hội.

  Về mặt khoa học pháp lý, quyền lực của một nhà nước thường được trao cho 3 cơ quan (chính thức) đó là Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay với tư tưởng đề cao sức mạnh của tự do thông tin thì báo chí được coi là nhánh Quyền lực thứ 4 (dù không chính thức) sánh cùng 3 cơ quan quyền lực còn lại.

pháp luật và báo chí

Đôi điều về pháp luật và báo chí

  Mối tương quan giữa pháp luật và báo chí

  Thứ nhất, về mặt chức năng, báo chí có vai trò tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới các thành viên trong xã hội. Từ việc đưa tin về những lần lấy ý kiến, sửa đổi Hiến pháp, các dự thảo luật của Quốc hội, đăng Công báo cho đến việc ban hành các văn bản pháp luật mới đều nhờ đến sự phổ biến rộng rãi của báo chí. Trong khi đó, pháp luật lại trở thành nguồn của báo chí, thông qua những vụ việc được Tòa án xét xử, những hỏi đáp, phỏng vấn, những tọa đàm khoa học luật pháp, báo chí đã thông tin kịp thời đến đông đảo tầng lớp nhân dân.

  Thứ hai, báo chí được biết đến với nhiệm vụ phát hiện và phơi bày vấn đề trong khi pháp luật giúp giải quyết xử lý các vấn đề ấy. Đơn cử như việc năm 2008 Công ty Vedan xả thải chui ra sông Thị Vải gây ô nhiễm nặng. Nhờ có sự vào cuộc đưa tin của báo chí mà đơn vị này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Rồi liên tiếp các vụ việc có dấu hiệu lạm quyền, tham nhũng của các cá nhân đã bị báo chí đưa ra ánh sáng. Nhờ đó cơ quan chức năng đã nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật…

  Thứ ba, báo chí và pháp luật cùng góp phần giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước. Với tiêu chí minh bạch thông tin, phản ánh chính xác, kịp thời, báo chí được xem như một trong những phương tiện để người dân tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, từ các vấn đề như: đối nội, đối ngoại, việc ban hành các văn bản pháp luật, kê khai tài sản,… Bởi xét cho cùng, Nhân dân mới chính là người chủ thực sự, cho nên họ cần được thông báo về những gì đang diễn ra do những người mà họ tạm trao quyền để thực hiện công việc chung. Đến lượt mình, pháp luật chính là chiếc vòng kim cô để kiểm soát mọi cá nhân, tổ chức theo nguyên tắc “Dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực” để tránh việc Quyền lực làm cho con người tha hóa. Quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối3.

  Có thể nói, pháp luật và báo chí có mối quan hệ khá mật thiết. Chúng cùng nhau phục vụ vì lợi ích chung của mọi người. Xã hội càng văn minh thì càng nên coi trọng tự do báo chí và tính tối thượng của pháp luật. Sự kết hợp giữa báo chí và luật pháp mang lại nhiều ích lợi, tuy nhiên cũng giống như một tấm huy chương nó đều có mặt trái. Có đôi lúc báo chí làm nhiệm vụ thay pháp luật. Như việc một nghi can mới bị bắt thì các cơ quan báo chí đã thay cơ quan tư pháp kết tội họ, định hướng dư luận, hay bị biến thành công cụ cho những mưu toan kinh tế và chính trị. Vì vậy, người viết cho rằng nên để pháp luật và báo chí vào đúng vị trí của nó. Mọi sự lấn sân đều sẽ mang lại hậu quả không nhỏ cho xã hội.

  Trên đây là những chia sẻ đôi điều pháp luật và báo chí. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín đưa ra sẽ giúp bạn đọc có kiến thức và hiểu thêm về pháp luật và báo chí.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Vũ Khỏe

1. Giáo trình Nhà nước và Pháp luật- Đại học Luật Hà Nội;

2. Theo Bách khoa toàn thư mở;

3. Lord Acton, sử gia người Anh cuối thế kỷ 19.

Dân chủ luận giải

  Theo Wikipedia: “Dân chủ là một hình thức nhà nước, trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình. Thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự”.

  Hay theo quan điểm của Abraham Lincoln, ngay từ năm 1863 khi cuộc nội chiến Mỹ kết thúc, ông đã cho rằng dân chủ là chính quyền của dân, do dân và vì dân: “Một chính quyền của dân, do dân, và vì dân sẽ không thể bị diệt vong”. Chúng ta có thể hiểu “của dân” đó là sản phẩm chung của mọi thành viên trong xã hội, “do dân” chính là việc người dân cùng nhau thỏa hiệp lập nên, và “vì dân” sứ mệnh cốt yếu của chính phủ ở đây là phục vụ tốt nhất các nhu cầu mà người chủ sở hữu đã lập nên nó. Hiểu một cách khái quát nhất, theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, Dân chủ có thể được định nghĩa là “Dân là chủ và Dân làm chủ”. Ở đây, theo suy luận của người viết thì “Dân là chủ” chính là nói về vị thế, và “Dân làm chủ” ý nói tính chủ động của người làm chủ, ở đây chính là toàn thể Nhân dân.

  Về nguồn gốc của dân chủ                                                   

  Trong cuốn sách với tựa đề Origins of Democracy in Ancient Greece4 (tạm dịch: Các nguồn gốc của dân chủ trong nhà nước Hy lạp cổ đại) các tác giả cùng nhất trí rằng: Dân chủ có nguồn gốc từ Hy lạp cổ đại. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp, được ghép từ chữ demosnhân dânkratosquyền lực. Nghĩa là quyền lực nhân dân, vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 TCN để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy lạp. Nổi bật nhất là thành phố Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy ý niệm về Dân chủ trong xã hội đã hình thành từ khá lâu trong lịch sử nhân loại. Là một trong những quan niệm đỉnh cao mà con người xây dựng nên trong quá trình tồn tại của mình.

dân chủ luận giải

Nguồn gốc của dân chủ

  Các thành tố cốt lõi của nhà nước dân chủ

  Đối diện với một thuật ngữ đã có khởi nguồn từ xa xưa trong lịch sử, hẳn chúng ta đều phải dè dặt khi nói về các yếu tố mà nội hàm của nó muốn truyền đạt. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây phần lớn tại các nước văn minh tiến bộ, ai cũng thừa nhận vai trò của dân chủ trong xã hội. Vậy, một nhà nước Dân chủ phải cần hội tụ những thành tố nào? Và đâu là yếu tố cốt lõi?. Theo quan điểm của người viết thì một ý niệm, một quan điểm để được coi là khuôn vàng thước ngọc, được coi là tinh hoa của nhân loại, được hầu hết các dân tộc có sự đa dạng về văn hóa, phong tục, tín ngưỡng chấp nhận thì nó phải mang các giá trị nhân bản, phục vụ số đông, và hướng thiện:

  Thứ nhất, Nhà nước dân chủ phải bảo vệ quyền con người của mọi công dân. Theo quan điểm của K. Cácmác5 thì:“Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Như vậy có thể thấy vị trí trung tâm và quan trọng hàng đầu của con người trong một xã hội. Vì con người là chủ nhân của sản phẩm họ sáng tạo ra, đó là Nhà nước. Do vậy trong mọi hoạt động của mình, nhà nước phải luôn coi trọng và đặt phẩm giá của con người lên hàng đầu. Bởi họ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Từ việc ban hành luật pháp, bảo đảm những quyền cơ bản phải lấy con người ra làm trung tâm soi chiếu.

  Tại Khoản 1 Điều 1 Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức quy định về nhân phẩm – nhân quyền – giá trị pháp lý của các quyền cơ bản: “1. Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan nhà nước”. Ngược về lịch sử, trong bản Hiến pháp nước Mỹ, mười tu chính đầu tiên gọi là Bill of Rights đảm bảo cho công dân các quyền như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng… Tất cả các khái niệm về quyền công dân trong đó được xây dựng trên cơ sở giả thiết rằng, Nhà nước và Chính phủ tồn tại là để phục vụ nhân dân. Con người có quyền là vì họ là người chứ không phải vì nguồn gốc xuất thân, dân tộc, giới tính… Mọi công dân đều có những quyền xác định, quyền tự nhiên bất khả xâm phạm mà không một chính phủ nào có quyền tước đoạt hay hạn chế. Bản Hiến pháp mà mọi quốc gia có được chính là trên cơ sở sự đồng thuận của mọi thành viên trong xã hội trao quyền cho Nhà nước chứ không phải được lập ra để Nhà nước ban quyền cho người dân.

dân chủ luận giải

Con người là vị trí trung tâm của xã hội – Dân chủ luận giải

  Thứ hai, Nhà nước dân chủ phải là mẫu hình trong đó không ngừng theo đuổi tôn chỉ thượng tôn pháp luật, coi quyền lực pháp luật là lẽ công bằng. Nhà nước, tất cả các cơ quan nhà nước, tất cả các tập thể và từng cá nhân, không phụ thuộc vào nguồn gốc xuất thân và địa vị người đó nắm giữ, đều phải tuân thủ pháp luật. Bởi vậy, pháp luật phải nghiêm minh và rõ ràng để ai cũng biết và tuân thủ. Khi vi phạm thì ai cũng như ai, phải đối diện với sự trừng phạt thích đáng. Ngay từ xa xưa, người Việt chúng ta cũng đã hòa nhịp khát vọng chung của nhân loại về một xã hội coi trọng pháp luật: “Thương em anh để trong lòng/ Việc quan anh cứ phép công anh làm” hay mong muốn “Pháp luật bất vị thân”. Hàn Phi Tử7 thì cho rằng: “Pháp luật không được hùa theo kẻ sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật”.

  Thứ ba, một Nhà nước dân chủ cần đảm bảo cho sự tham gia tích cực của công dân trong chính trị và đời sống dân sự. Lấy việc ban hành Hiến pháp là một minh chứng. Bởi Hiến pháp là một đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, quy định những vấn đề chung nhất về quyền của công dân, cơ quan nhà nước nên việc lấy ý kiến của người dân hay trưng cầu dân ý cần phải được tôn trọng. Mặc dù cách quy định khác nhau, song Hiến pháp các quốc gia trên thế giới đều đề cập đến hai cách thức chính. Trong đó nhân dân sử dụng quyền lực của mình, đó là thực hiện một cách trực tiếp (thông qua bầu cử, trưng cầu ý dân…) và gián tiếp (thông qua các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là các cơ quan đại diện dân cử). Thực tiễn trên thế giới cho thấy, trong việc xây dựng và sửa đổi hiến pháp, người dân cũng sử dụng quyền lực thông qua cả hai cách này. Trong đó cách thức trực tiếp ngày càng được coi trọng và áp dụng nhiều hơn so với trước đây. Để thể hiện và bảo vệ chủ quyền nhân dân, thông thường hiến pháp các nước chỉ có thể được thông qua với sự chấp thuận của nhân dân (qua trưng cầu ý dân).

  Tiếp đến, đảm bảo sự tham gia của công dân vào việc hình thành xã hội dân sự. Xã hội dân sự được hiểu là xã hội trong đó các tổ chức khác nhau của các công dân như đảng phái, công đoàn, hợp tác xã, nhóm,… thực hiện mối liên hệ giữa công dân với Nhà nước, không để cho Nhà nước áp bức các công dân của mình. Tại các nước dân chủ thì lẽ tất yếu trong xã hội là người dân tham gia vào việc hoạch định, thực hiện chính sách và giám sát nhà nước, thực hiện phản biện xã hội. Chúng ta đều không thể phủ nhận vai trò của phản biện xã hội đối với sự phát triển của xã hội. Mọi cá nhân, tổ chức cần có sự bình quyền trong việc tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm để đóng góp vào dòng chảy chung kiến tạo một xã hội tiến bộ. Theo quan điểm của Ngô Bảo Châu8 thì: “Người biết phẫn nộ, biết trăn trở chính là người tạo ra động lực thay đổi xã hội, làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn”.

  Có thể nói, dân chủ là một mục tiêu mà tất cả các quốc gia trên thế giới cần hướng đến. Ý niệm dân chủ không phải là điều gì đó quá xa xôi, bởi bản thân nó là một nhu cầu tất yếu của mỗi chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Cũng giống như việc ăn, ngủ, nghỉ, nó chỉ là sự thừa nhận những giá trị tự nhiên hay tuân theo luật tự nhiên mà con người đã hiển nhiên sở hữu từ thủa hồng hoang. Người viết xin mượn lời của N.M.Voskresenskaia9 trong cuốn Chế độ Dân chủ, Nhà nước và xã hội thay lời tạm kết:“Tất cả chúng ta đều phải học qua trường học dân chủ. Kể cả người vừa bước vào đời cũng như người đã trải qua nhiều kinh nghiệm sống. Vì khát vọng tự do có thể là bẩm sinh nhưng thực hành dân chủ thì phải học mới biết”.

  Trên đây là những chia sẻ của Luật Minh Tín về dân chủ luận giải. Hy vọng với những gì Luật Minh Tín đưa ra sẽ giúp bạn đọc có kiến thức và hiểu thêm về vấn đề dân chủ luận giải.

  Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Minh Tín theo số điện thoại – 0243.555.8410/0914179856 hoặc gửi vào hòm thư info@luatminhtin.vn.

Vũ Khỏe

1 Bách khoa toàn thư mở;

2 Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ;

3 Giáo sư sử học, khảo cổ học;

4 Do đại học California ấn hành ngày 11/1/2007;

5 Nhà tư tưởng người Đức;

6 Luật về các quyền của Mỹ;

7 Học giả nổi tiếng Trung quốc thời chiến quốc, đề xuất tư tưởng Pháp trị;

8 Giáo sư toán, giành giải Fields;

9 Giáo sư chính trị học của Nga.

Luận bàn về hiến pháp

  Hiến pháp (Constitution) có lẽ là một trong những thuật ngữ pháp lý được nhắc đến nhiều nhất trong cuộc sống thường nhật của mọi quốc gia.

  Tại Việt Nam, chúng ta thường nghe đến khẩu hiệu như “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Những lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thực sự trở thành sự kiện lớn của đất nước thu hút sự quan tâm của đông đảo tầng lớp nhân dân. Vậy, Hiến pháp là gì và tại sao nó lại chiếm một vị trí quan trọng đến như vậy?

luan-ban-ve-hien-phap

Bàn luận về hiến pháp

Đi tìm một định nghĩa về Hiến pháp

  Theo từ điển Merriam-Webster1: Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một nhà nước. Trong đó quy định quyền, nghĩa vụ của chính quyền và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân (the basic principles and laws of a nation, state, or social group that determine the powers and duties of the government and guarantee certain rights to the people in it).

  Theo Wikipedia2: Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Nhiều hiến pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân.

  Qua hai định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy trong hệ thống pháp luật của quốc gia, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Vì sao Hiến pháp lại cần thiết đối với mọi nhà nước?

  Có thể nhận thấy rằng Hiến pháp như một bản Khế ước xã hội (Social contract). Bởi nó là kết quả của sự thỏa hiệp, nhượng bộ của các cá nhân trong một xã hội. Để có thể chung sống một cách hài hòa, bình đẳng với nhau, mỗi người đã tự nguyện dành một phần quyền của mình thiết lập một bản khế ước chung để rồi có được sự che chở của xã hội đại diện bởi luật pháp. Chúng ta hãy thử hình dung một xã hội mà không được điều chỉnh bởi những nguyên tắc nhất định sẽ trở nên hỗn độn và bất ổn biết chừng nào. Ngày nay, sự hiện diện của Hiến pháp như một điều tất yếu của một nhà nước dân chủ. Cụ thể, Hiến pháp thể hiện tính chính danh của nhà nước, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Vì Hiến pháp thông thường chỉ có thể được thông qua với sự chấp thuận của nhân dân. Quan điểm này từng được thể hiện bởi Abraham Lincoln3: Một chính quyền của dân, do dân và vì dân sẽ không bao giờ bị tiêu vong (The Government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the Earth).

quốc hội luận bàn về hiến pháp

Quốc hội luận bàn về hiến pháp

Các hình thức biểu hiện của Hiến pháp

  Có hai loại Hiến pháp đó là: Hiến pháp thành văn (written constitution) và Hiến pháp không thành văn (unwritten constitution). Hiến pháp thành văn được lập thành văn bản và được tuyên bố là luật cơ bản của nhà nước. Trong khi đó Hiến pháp không thành văn là tập hợp các quy phạm, tư tưởng phản ánh các giá trị cốt lõi được thể hiện trong một số đạo luật, văn bản chính trị. Các quy phạm, tập quán này được coi như là các quy tắc mang tính hiến pháp, cho dù chúng không được cấu thành một văn bản riêng. Căn cứ vào thủ tục sửa đổi, Hiến pháp được chia làm hai loại Hiến pháp cứng (rigid constitution) và Hiến pháp mềm dẻo (flexible constitution). Trong đó Hiến pháp cứng đòi hỏi những thủ thục, quy trình đặc biệt khi sửa đổi (vd Hiến pháp Mỹ). Trái lại Hiến pháp mềm dẻo thì có thể sửa đổi theo thủ tục lập pháp thông thường của Quốc hội (vd Hiến pháp Việt Nam).

Hiến pháp và đặc tính tối thượng của nó  

  Với tư cách là đạo luật cơ bản, mang một nội hàm phong phú, Hiến pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm tính ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội. Do vậy, nó xứng đáng với sự tôn trọng của nhà nước, và mọi tầng lớp nhân dân. Thêm vào đó, Hiến pháp được coi là đạo luật gốc của quốc gia, là nền tảng để xây dựng các đạo luật thông thường. Vậy nên, mọi đạo luật thông thường khác đều nhằm cụ thể hóa các chế định, quy phạm của Hiến pháp, trái với điều này sẽ dẫn đến việc vi hiến (unconstitutional).

  Theo Từ điển tiếng Việt thì “tối thượng” được hiểu là một điều gì đó cao nhất, có tác dụng chi phối tất cả. Nhìn vào vai trò và tầm quan trọng của Hiến pháp thì nó chính là một văn bản luật trên tất cả. Nó là sự hội tụ của ý chí tập thể mang một giá trị thiêng liêng đối với bất cứ quốc gia nào. Không một cá nhân, tổ chức nào có thể đứng trên Hiến pháp và dùng Hiến pháp để chống lại nhân dân bởi chính nhân dân là chủ thể đã tự nguyện trao một phần quyền của mình góp phần tạo nên Hiến pháp. Theo quan điểm của Patrick Henry4: “Hiến pháp không phải là một công cụ của chính phủ để đàn áp nhân dân, mà là một công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ”. Đề cập đến Hiến pháp chúng ta có thể hình dung đó là một khế ước của nhân dân lập ra để kiểm soát quyền lực nhà nước. Hiến pháp được lập ra để ràng buộc chính quyền chứ không phải ban quyền cho người dân. Bởi vì người có khả năng vi phạm hiến pháp thường không phải nhân dân mà là các cơ quan có thể sử dụng quyền lực công.

  Bản Hiến pháp năm 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước ta được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 09/11/1946. Bản Hiến pháp này đã phản ánh đúng tinh thần pháp quyền, và được đặt cao hơn nhà nước. Cụ thể tại Điểm c Điều 70 Hiến pháp 1946 quy định Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây: “c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

  Hiến pháp Mỹ được soạn thảo năm 1787 được cho là bản hiến pháp lâu đời và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử. Từ khi có hiệu lực năm 1789, nó đã được tham khảo nhiều lần để làm mô hình cho các hiến pháp của những quốc gia khác.  William Ewart Gladstone5 đã miêu tả Hiến pháp này là “Tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người”. Vì sao lại có điều này? Thực tế chúng ta có thể thấy rằng tại thời điểm soạn thảo Hiến pháp Mỹ, các nhà soạn thảo đã quy định hiến pháp là bộ luật tối cao của đất nước, đặt quyền người dân trên hết, và quyền hạn của chính phủ được người dân ủy nhiệm. Theo nghi thức truyền thống của nước Mỹ, trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức Tổng thống đắc cử phải đọc chính xác lời tuyên thệ theo quy định tại Điều 2, Mục I Hiến pháp Mỹ: Tôi trịnh trọng tuyên thệ rằng tôi sẽ đảm đương vị trí tổng thống Mỹ một cách trung thành và sẽ làm hết khả năng để giữ gìn, duy trì và bảo vệ Hiến pháp Mỹ (I do solemnly swear (or affirm) that I will faithfully execute the Office of President of the United States, and will to the best of my Ability, preserve, protect and defend the Constitution of the United States)6.

  Xét về Hiến pháp trên cả hai phương diện lý thuyết và thực tế, chúng ta đều phải nhất trí về tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của nó. Do vậy, vấn đề tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp sẽ luôn là vấn đề mang tính thời sự và thiết thực nhất đối với mọi quốc gia trên thế giới.

Vũ Khỏe

1 Từ điển Merriam-Webster được xuất bản năm 1828 tại Mỹ;

2 Bách khoa toàn thư mở;

3 Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ;

4 Nhà sáng lập nước Mỹ;

5 Thủ tướng Vương quốc Anh (1809 – 1898);

6 Điều 2, Mục I Hiến pháp Mỹ 1787.

Giải quyết vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại – một số vướng mắc trong thực tiễn.

Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được quy định trong Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Đây là một loại án có tính chất đặc thù, việc giải quyết các vụ án này ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung của BLTTHS còn phải tuân thủ một số quy định riêng. Thực tiễn xét xử của Tòa án cho thấy, quá trình giải quyết vụ đã nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập dẫn đến sự nhận thức cũng như áp dụng pháp luật chưa thống nhất, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng xét xử.

pp
1.  Một số vướng mắc, bất cập
1.1. Hồ sơ vụ án không có yêu cầu khởi tố của người bị hại
Theo quy định tại Khoản1, Điều 105 BLTTHS thì có 11 trường hợp cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thanh niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Đó là các vụ án về các tội phạm được quy định tại Khoản 1 các Điều 104; 105; 106; 108; 109; 111; 113; 121; 122; 171. Do vậy khi giải quyết vụ án, Thẩm phán phải nghiên cứu xem vụ án mà Viện kiểm sát truy tố có thuộc các trường hợp đã nêu không, nếu có thì phải kiểm tra xem hồ sơ có yêu cầu khởi tố hay không, tính pháp lý của yêu cầu khởi tố cũng như quyết định khởi tố. Trường hợp hồ sơ không có yêu cầu khởi tố của người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) thì vụ án cần được giải quyết như thế nào? Hiện nay có 03 quan điểm về vấn đề trên.
Thứ nhất, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án vì vụ án không có yêu cầu khởi tố của người bị hại nên không đặt ra giải quyết theo quy định của Khoản 1 Điều 105 BLTTHS.
Thứ hai, Thẩm phán triệu tập người bị hại và làm rõ xem họ có yêu cầu khởi tố vụ án hay không, nếu có thì tiếp tục giải quyết, còn nếu không thì đình chỉ vụ án.
Thứ ba, Thẩm phán phải ra quyết định trả hồ sơ bổ sung.

1.2  Yêu cầu khởi tố vụ án có sau khi vụ án đã được khởi tố
Thông thường, khi một hành vi có dấu hiệu là tội phạm xảy ra, các cơ quan tố tụng chưa xác định được ngay hậu quả chính xác của hành vi và lúc này vẫn chưa có yêu cầu của người bị hại nhưng để đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được kịp thời, thuận lợi nên cơ quan có thẩm quyền vẫn ra quyết định khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Sau đó, khi đã xác định được hậu quả của hành vi và thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, cơ quan điều tra triệu tập người bị hại và hướng dẫn họ yêu cầu khởi tố vụ án. Do vậy, dẫn tới có trường hợp yêu cầu khởi tố vụ án có sau khi đã khởi tố vụ án. Việc giải quyết vụ án trên có 02 quan điểm.
Thứ nhất, tiếp tục giải quyết vụ án như trường hợp yêu cầu khởi tố vụ án có trước khi khởi tố vụ án.
Thứ hai, cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

1.3. Trước khi mở phiên tòa phát hiện bị can chỉ phạm tội (hoặc khung hình phạt) truy tố và thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại
Trong một số trường hợp, cơ quan điều tra xác định hành vi của bị can là nghiêm trọng nên khởi tố vụ án mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại; nhưng khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán lại nhận thấy bị can chỉ phạm tội (khung) nhẹ hơn tội (khung) đã bị khởi tố, truy tố và tội (khung) phải có yêu cầu của người bị hại thì mới được khởi tố vụ án. Việc giải quyết vụ việc trên có 02 quan điểm.
Thứ nhất, Thẩm phán triệu tập người bị hại và làm rõ họ có yêu cầu khởi tố vụ án không, nếu có thì tiếp tục giải quyết, còn nếu không thì trả hồ sơ hoặc đình chỉ vụ án.
Thứ hai, vẫn phải mở phiên tòa để xác định hành vi của bị can phạm tội (khung) nào trong quá trình nghị án, khi đó mới xem xét đến vấn đề có yêu cầu khởi tố hay không để quyết định.
Thứ ba, cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung ngay mà không cần hỏi ý kiến của người bị hại.

1.4. Trường hợp người bị hại rút đơn khởi tố
– Thời điểm được rút yêu cầu của người bị hại
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 150 BLTTHS thì khi người yêu cầu rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Ở đây, có một vấn đề đặt ra là đến ngày mở phiên tòa mà phiên tòa không tiến hành được vì các lý do khác nhau và phải hoãn phiên tòa, vậy người bị hại có quyền rút yêu cầu trong thời gian này nữa hay không? Vấn đề này hiện có 02 quan điểm.
Thứ nhất, người bị hại không có quyền rút yêu cầu khởi tố vì ngày mở phiên tòa đã được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử và đến ngày đó người bị hại đã hết quyền rút yêu cầu, việc hoãn phiên tòa là vì lý do khác.
Thứ hai, người bị hại vẫn có quyền rút yêu cầu khởi tố vì mặc dù ngày mở phiên tòa đã được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng nó được hoãn và ngày chính thức mở phiên tòa được ấn định trong quyết định hoãn phiên tòa.
– Trong vụ án đồng phạm có nhiều bị can, người bị hại chỉ rút yêu cầu với một hoặc một số bị can
Thứ nhất, cần đình chỉ vụ án với bị can được rút yêu cầu, các bị can còn lại vẫn giải quyết xét xử.
Thứ hai, vẫn phải giải quyết xét xử với tất cả bị can và bị can nào được rút yêu cầu thì được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

1.5. Sự có mặt của người bị hại
Điều 191 BLTTHS quy định: “Nếu người bị hại vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử”. Đây là quy định chung cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà họ vắng mặt tại phiên tòa thì xử lý như thế nào? Vấn đề này có 02 quan điểm cụ thể:
Thứ nhất, phải hoãn phiên tòa.
Thứ hai, nếu hồ sơ có đầy đủ chứng cứ thể hiện quan điểm của người bị hại thì vẫn có thể tiến hành phiên tòa. Trường hợp chưa đủ chứng cứ thể hiện quan điểm của người bị hại thì hoãn phiên tòa.

1.6. Tại phiên tòa, có căn cứ xác định bị can chỉ phạm tội (hoặc khung hình phạt) nhẹ hơn tội (hoặc khung hình phạt) truy tố và tội (hoặc khung này) phải có yêu cầu của người bị hại thì mới được khởi tố vụ án
Thứ nhất, Hội đồng xét xử hỏi người bị hại trong phần xét hỏi, nếu họ có yêu cầu thì tiến hành phiên tòa theo đúng thủ tục chung, nếu họ không yêu cầu thì vào phòng nghị án thảo luận và ra quyết định đình chỉ vụ án.
Thứ hai, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên tòa cho đến khi nghị án mới xác định hành vi của bị cáo thuộc tội (khung) nào, và nếu chưa có yêu cầu của người bị hại thì quay trở lại phần xét hỏi để hỏi người bị hại, nếu có yêu cầu thì tiếp tục giải quyết, nếu không có yêu cầu thì vào phòng nghị án thảo luận và ra quyết định đình chỉ vụ án (hoặc quyết định yêu cầu điều tra bổ sung).

Giáp Phương

Những oan khuất trong một vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng

I. NỘI DUNG SỰ VIỆC

  Ngày 14/6/2005, vợ chồng ông Nguyễn Văn Tấn ký hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ với Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình. Theo đó, vợ chồng ông dùng tài sản của gia đình mình là nhà và đất tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa để bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn (địa chỉ tại phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm) vay số tiền là 620.000.000đ của Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình. Thời hạn thế chấp tài sản được tính từ ngày Hợp đồng bảo lãnh có hiệu lực cho đến khi Công ty Anh Tuấn trả hết nợ cho khoản vay này.

  Tháng 6/2005, Vietcombank đã cho Công ty Anh Tuấn vay tiền. Đến tháng 6/2006, Công ty Anh Tuấn đã trả nợ xong toàn bộ số tiền đã vay của Vietcombank. Theo quy định tại Điều 3 của hợp đồng bảo lãnh số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ thì thời hạn thế chấp nhà và đất ở đã kết thúc vào thời điểm Công ty Anh Tuấn trả hết nợ (tháng 6/2006).

  Ngày 08/5/2008, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và vợ chồng ông Tấn tiếp tục ký Hợp đồng thế chấp có số Công chứng 1320.2008/HĐTC. Theo đó, ông bà lại sử dụng tài sản là nhà và đất nêu trên để thế chấp nhằm bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn vay vốn tại Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình. Nội dung của Hợp đồng thế chấp thể hiện: Nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay tối đa 2.453.360.000đ; Khoản vay được bảo đảm là khoản vay được hình thành trong tương lai, do Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn sẽ ký tại trụ sở của bên cho vay; Thời hạn thế chấp là 05 năm kể từ ngày Bên được bảo lãnh nhận tiền vay.

tranh chấp tín dụng

Công ty luật Minh Tín hỗ trợ giải quyết tranh chấp tín dụng cho Công ty Anh Tuấn

 Tháng 10/2012, vợ chồng ông Tấn được Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện giữa Ngân hàng Vietcombank và Công ty Anh Tuấn.
  Ngoài những thông tin trên, hồ sơ vụ án còn thể hiện:

  Ngày 25/10/2007, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn ký Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ. Nội dung của Hợp đồng thể hiện Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình thỏa thuận cho Công ty Anh Tuấn vay tiền với hạn mức 5.000.000.000đ; Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 03 quyền sở hữu nhà và sử dụng đất, tổng giá trị 4.147.900.000đ thể hiện tại các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL ngày 17/4/2006, số 07/06/TCBL ngày 16/01/2006, số 86/05/TCBL ngày 14/06/2005. Tính đến ngày 12/3/2008, Ngân hàng đã cho Công ty Anh Tuấn vay 13 lần với tổng số tiền là 6.776.000.000đ.
  Ngày 16/5/2008, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn lập Phụ lục số 01 của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ để thay đổi Điều 2 của Hợp đồng: thời hạn rút vốn vay được tăng từ 180 ngày lên 240 ngày. Dựa vào đó, Ngân hàng tiếp tục cho Công ty Anh Tuấn vay thêm 4 lần với tổng số tiền 3.208.000.000đ.
  Ngày 04/9/2008, Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn ký Phụ lục của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ để thỏa thuận thay đổi Điều 6 – Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ. Nội dung của phụ lục là bổ sung biện pháp bảo đảm bằng đưa thêm 02 tài sản vào bảo đảm cho khoản vay là nhà đất của vợ chồng ông Tấn (tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa) theo Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC và nhà đất của vợ chồng ông Bút (tại thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh) theo Hợp đồng thế chấp 1620.2008/HĐTC.

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Vietcombank:

  Do Công ty Anh Tuấn không trả nợ đúng hạn nên Vietcombank đã khởi kiện yêu cầu trả toàn bộ số nợ gốc và lãi là 6.451.913.623đ. Trường hợp Công ty Anh Tuấn không có khả năng thanh toán nợ thì phát mãi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, gồm:- Nhà đất tại thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh của vợ chồng ông Bút. Bên thế chấp phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền nợ gốc là 492.000.000đ và tiền lãi là 424.010.129đ theo Hợp đồng thế chấp có số Công chứng 1620.2008/HĐTC ngày 17/6/2008.- Nhà đất tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa của vợ chồng ông Tấn. Bên thế chấp phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền nợ gốc 2.453.360.000đ và tiền lãi là 2.114.328.234đ theo Hợp đồng thế chấp số Công chứng 1320.2008/HĐTC ký ngày 08/5/2008.II. QÚA TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TÒA ÁN1. Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm – TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm  Tại bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã nhận định:

– Công ty Anh Tuấn còn nợ Vietcombank tính đến hết ngày 28/7/2014 là 6.451.913.623đ (bao gồm: Nợ gốc 3.465.400.000đ; Nợ lãi trong hạn 2.516.523.875đ; Nợ lãi phạt 469.989.748đ).

– Bị đơn đã sử dụng hai tài sản thế chấp của bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay trên là: Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 35 tờ bản đồ số 31 thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh của vợ chồng ông Bút, bà Toan theo hợp đồng thế chấp số 1620.2008/HĐTC ngày 17/6/2008; và toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội của vợ chồng ông Tấn, bà Nghĩa theo Hợp đồng thế chấp sô 1320.2008/HĐTC ngày 08/05/2008. Dựa vào đó HĐXX quyết định xử:

– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vietcombank. Buộc Công ty Anh Tuấn phải trả cho Ngân hàng Vietcombank số tiền 6.451.913.623đ (bao gồm: Nợ gốc 3.465.400.000đ; Nợ lãi trong hạn 2.516.523.875đ; Nợ lãi phạt 469.989.748đ);

– Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Anh Tuấn không trả được nợ thì Vietcombank có quyền yêu cầu ông Nguyễn Văn Tấn, bà Phạm Thị Nghĩa, ông Nguyễn Văn Bút, bà Nguyễn Thị Toan thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh. Vietcombank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm:

+ Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông Bút, bà Toan…

+ Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông Tấn, bà Nghĩa tại ngách 191 ngõ Văn Chương, quận Đống Đa. Gia đình ông Tấn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền là 2.453.360.000đ cộng với số tiền lãi là 2.114.328.234đ. Tổng cộng 4.567.688.234đ.

II. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm

  Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định (xin trích dẫn nguyên văn):

  “Ngày 10/4/2008 Công ty Anh Tuấn có đơn đề nghị Ngân hàng cho làm thủ tục xuất ngoại tài sản thế chấp là nhà đất của ông Tấn và bà Nghĩa để định giá lại cho sát thị trường, có chữ ký của ông Tấn bà Nghĩa.

  Ngày 8/5/2008 ông Tấn bà Nghĩa đã ký hợp đồng thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền đất nêu trên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của Công ty Anh Tuấn đối với Ngân hàng. Nghĩa vụ được bảo đảm cho khoản vay tối đa là 2.453.360.000đ. Hợp đồng đã được các bên tiến hành công chứng và đăng ký thế chấp theo quy định.

  Như vậy nhà đất đứng tên ông Tấn đã được ông Tấn bà Nghĩa làm thủ tục thế chấp cho ngân hàng bảo đảm cho Công ty Anh Tuấn vay vốn từ năm 2005 và đến năm 2008 ký lại hợp đồng với thỏa thuận tăng giá trị tài sản thế chấp và tăng nghĩa vụ bảo đảm của khoản vay chứ không phải đến năm 2008 ông Tấn bà Nghĩa mới ký hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho công ty Anh Tuấn vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức ngày 25/10/2007.

  Ngày 16/5/2008 Ngân hàng và công ty Anh Tuấn ký phụ lục hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2007 thay đổi điều 2 tăng thời hạn rút vốn lên 240 ngày và thay đổi điều 6 thể hiện tài sản bảo lãnh của bên thứ ba là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông Tấn bà Nghĩa theo hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008.

  Như vậy do hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008 đã tăng giá trị tài sản thế chấp và tăng nghĩa vụ bảo đảm của khoản vay nên việc Công ty và Ngân hàng ký phụ lục này là phù hợp với hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008, việc thay đổi này không làm tăng nghĩa vụ bảo đảm đã được xác định cụ thể trong hợp đồng thế chấp ngày 8/5/2008 nên không làm thiệt hại cho ông Tấn bà Nghĩa. Các hợp đồng bảo lãnh thế chấp ông Tấn bà Nghĩa đã ký tại các thời điểm đều không nêu cụ thể hợp đồng tín dụng mà chỉ xác định giá trị bảo đảm. Sau khi Công ty không trả được nợ ông Tấn đã nhiều lần làm việc với ngân hàng vẫn công nhận và đưa ra cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ cùng với công ty Anh Tuấn và đồng ý phát mại tài sản bảo đảm.”.

  Từ đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định: Xử y án sơ thẩm, bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn Tấn.

III. BẢN ÁN CÓ NHIỀU SAI SÓT NGHIÊM TRỌNG

1. Thứ nhất, cho rằng nhà và đất của gia đình ông Tấn liên tục được thế chấp theo hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ từ năm 2005 đến năm 2008 là không đúng.

  Điều 3 của hợp đồng bảo lãnh quy định về thời hạn thế chấp như sau: “Thời hạn thế chấp tài sản nói trên để bảo lãnh được tính từ ngày Hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản này có hiệu lực cho đến khi Bên vay trả hết nợ (cả gốc, lãi và các chi phí phát sinh – nếu có) cho Bên Ngân hàng”. Căn cứ vào các nội dung của Hợp đồng bảo lãnh nêu trên thì nhà đất của gia đình ông Tấn được thế chấp bắt đầu từ ngày 16/6/2005 (ngày đăng ký giao dịch bảo đảm) và kết thúc vào ngày 30/6/2006 (ngày Công ty Anh Tuấn trả hết nợ và làm thủ tục tất toán với Ngân hàng).

  Ngay cả tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ ngày 25/10/2007 cũng chỉ đề cập đến ba hợp đồng bảo đảm có số lần lượt là 704.2006/HĐBL, 07/06/TCBL, 86/05/TCBL và không đề cập đến hợp đồng có số86/2005/TCBL/NHNTBĐ, không thể nói rằng hợp đồng số 86/05/TCBL là hợp đồng 86/2005/TCBL/NHNTBĐ (có sự khác biệt hoàn toàn về mặt ký hiệu, cả phần số và phần chữ). Cả 03 hợp đồng 704.2006/HĐBL, 07/06/TCBL, 86/05/TCBL đều không được thu thập để đưa vào hồ sơ vụ án.

  Do đó, Hội đồng xét xử cho rằng nhà đất thế chấp từ năm 2005 liên tục đến năm 2008 và để đảm bảo việc trả nợ cho các hợp đồng tín dụng ký giữa Vietcombank và Công ty Anh Tuấn, trong đó có Hợp đồng tín dụng số 03/07/BĐ ngày 25/10/2007 là đã cố ý giải thích sai nghiêm trọng nội dung của hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ ngày 14/6/2005 theo hướng bất lợi cho gia đình ông Tấn và có lợi cho Ngân hàng Vietcombank.

  Không thể coi Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC ngày 08/5/2008 là sự thỏa thuận lại, làm lại hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ ngày 14/6/2005. Bản chất pháp lý thì đây là hai giao dịch hoàn toàn độc lập với nhau, không có tính kế thừa. Cụ thể: hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 86/2005/TCBL/NHNTBĐ là để đảm bảo cho khoản vay 620.000.000đ từ năm 2005, việc thế chấp nhà đất để bảo lãnh đã chấm dứt từ tháng 6/2006; còn Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC ngày 08/5/2008 có hiệu lực kể từ ngày 9/5/2008 (ngày được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Phòng tài nguyên và Môi trường quận Đống Đa) lại để đảm bảo cho một khoản vay khác, sắp phát sinh.

2. Thứ hai, Vietcombank và Công ty Anh Tuấn đã có những thao tác để phù phép để biến tài sản là biện pháp bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng tín dụng mới thành biện pháp bảo đảm bổ sung cho hợp đồng đang thực hiện, rồi từ biện pháp bảo đảm bổ sung bị biến thành biện pháp bảo đảm thay thế để giải nguy cho những chủ tài sản khác.

2.1. Bị phù phép thành biện pháp bảo đảm bổ sung

  Mục đích ban đầu của Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC là để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ cho Công ty Anh Tuấn khi Công ty này vay vốn Ngân hàng bằng một hợp đồng tín dụng trong tương lai mà Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn sẽ thỏa thuận tại trụ sở của Ngân hàng, tại Mục 1.3 của Hợp đồng quy định “Các điều kiện chi tiết về việc vay và cho vay khoản tiền nêu trên sẽ được ghi cụ thể trong các giấy tờ nghiệp vụ ngân hàng mà Bên B và Bên được bảo lãnh sẽ ký tại trụ sở của Bên B.

  Phụ lục ngày 04/9/2008 đã cố ý tạo sự hiểu lầm là tài sản thế chấp theo Hợp đồng số 1320.2008/HĐTC là biện pháp bảo đảm bổ sung cho Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ nhằm mục đích xử lý tài sản của gia đình ông Tấn để thu nợ. Tuy nhiên, có nhiều căn cứ để chứng minh đây không phải là biện pháp bảo đảm bổ sung, thỏa thuận giữa Vietcombank và Công ty Anh Tuấn không có giá trị pháp lý, chẳng hạn:

– Về thời điểm ký: Tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC, Bên thế chấp không biết (và không có nghĩa vụ phải biết) giữa Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn đã ký và đang thực hiện Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ.

– Đối đối tượng được bảo đảm của Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC là một khoản vay mới của Công ty Anh Tuấn tại Ngân hàng trên cơ sở một hợp đồng tín dụng mới sẽ được bên vay và bên cho vay thỏa thuận như quy định tại Mục 1.3 của Hợp đồng “Các điều kiện chi tiết về việc vay và cho vay khoản tiền nêu trên sẽ được ghi cụ thểtrong các giấy tờ nghiệp vụ ngân hàng mà Bên B và Bên được bảo lãnh sẽ ký tại trụ sở của Bên B.”.

– Về giá trị khoản vay được bảo đảm: Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC bảo đảm cho khoản vay ó giá trị tối đa là 2.453.360.000đ, trong khi đó khoản vay theo Hợp đồng số 03/07/HM/NHNT.BĐ là 5.000.000.000đ.

– Về thời điểm thế chấp tài sản: Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC quy định “Thời hạn thế chấp tài sản nói trên là 05 năm được tính từ ngày Bên được bảo lãnh nhận tiền vay”, nên có thể nhận thấy đây là tài sản bảo đảm cho khoản vay mới, tài sản sẽ được thế chấp ngay tại thời điểm Công ty Anh Tuấn nhận được tiền vay. Tại thời điểm ngày 04/9/2008, mọi khoản vay Công ty Anh Tuấn đều nhận được trước đó trên 03 tháng. Nên thời điểm thế chấp không thể bắt đầu từ ngày 04/9/2008 (ngày Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn lập phụ lục).

– Về phạm vi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: việc thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC là để vợ chồng ông Tấn bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn ký và thực hiện một hợp đồng tín dụng mới với Ngân hàng để vay khoản tiền tối đa là 2.453.360.000đ và không liên quan đến những người bảo lãnh khác. Ngân hàng Vietcombank và Hội đồng xét xử cho rằng vợ chồng ông Tấn và vợ chồng ông Bút phải liên đới hoặc cùng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản vay của Công ty Anh Tuấn theo Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ là không đúng.

2.2. Bị biến thành biện pháp bảo đảm thay thế để giải nguy cho những chủ tài sản khác

  Phụ lục hợp đồng lập ngày 04/9/2008 giữa Vietcombank – Chi nhánh Ba Đình và Công ty Anh Tuấn thể hiện việc hai bên thỏa thuận thay đổi Điều 6 – Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ với nội dung là bổ sung biện pháp bảo đảm bằng đưa thêm 02 tài sản vào bảo đảm cho khoản vay là nhà đất của vợ chồng ông Tấn theo Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC và nhà đất của vợ chồng ông Bút theo Hợp đồng thế chấp số 1620.2008 để đảm bảo cho khoản vay.

  Mặc dù, giữa tài liệu và cách lý giải của Ngân hàng hoàn toàn mâu thuẫn nhưng HĐXX đã chấp nhận một cách vô điều kiện cách giải thích của Ngân hàng và cho rằng ngày 04/9/2008 Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn đã thỏa thuận rút 03 tài sản ra và thay thế vào đó là 02 tài sản của gia đình ông Tấn và gia đình ông Bút.

  Như vậy, có thể thấy mục đích ban đầu của vợ chồng ông Tấn là ký hợp đồng thế chấp để bảo lãnh cho Công ty Anh Tuấn ký hợp đồng tín dụng vay vốn của Ngân hàng, nhưng tài sản của vợ chồng ông Tấn lại được Ngân hàng và Công ty Anh Tuấn thỏa thuận đưa vào làm biện pháp bảo đảm bổ sung cho khoản vay trước đó. Khi cần xử lý tài sản để thu nợ thì Ngân hàng lại giải thích tài sản của gia đình ông Tấn là biện pháp bảo đảm thay thế để cứu nguy cho chủ của 03 tài sản khác đứng trước nguy cơ phải thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh. Tuy lời khai của đại diện Ngân hàng mâu thuẫn với nội dung của Hợp đồng thế chấp số 1320.2008/HĐTC và Phụ lục lập ngày 04/9/2008 nhưng lại được hai cấp tòa thông qua một cách vô điều kiện

3. Thứ ba, bỏ sót người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án để quy trách nhiệm cho những người không có nghĩa vụ

  Tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ có quy định tài sản bảo đảm là 03 quyền sử dụng nhà và đất được thể hiện tại các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL, số 07/06/TCBL, số 86/05/TCBL. Mặc dù lời khai của đại diện Vietcombank là đã rút 03 tài sản bảo đảm này ra và thay bằng 02 tài sản khác nhưng lại mâu thuẫn với nội dung của Phụ lục lập ngày 04/9/2008, không thể hiện 03 tài sản này được rút ra mà chỉ đề cập đến việc đưa thêm 02 tài sản vào để đảm bảo cho khoản vay “Biện pháp bảo đảm bổ sung”.

  Không thể chỉ dựa vào lời khai của đại diện Vietcombank để cho rằng những người bảo lãnh theo các hợp đồng bảo đảm có số 704.2006/HĐBL, 07/06/TCBL, 86/05/TCBL không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án do tài sản bảo đảm đã được rút ra. Sau thời điểm ngày 04/9/2008 khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 03/07/HM/NHNT.BĐ vẫn được bảo đảm bằng 03 tài sản theo các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL, số 07/06/TCBL, số 86/05/TCBL, việc Ngân hàng và Hội đồng xét xử đã cùng “miễn” nghĩa vụ cho những người bảo lãnh theo các hợp đồng này và đưa những người khác vào gánh vác nghĩa vụ thay là trái pháp luật.

  Tác giả thiết nghĩ, Hội đồng xét xử không thể vì thiện cảm với Ngân hàng để không đưa những người bảo lãnh theo các hợp đồng bảo đảm số 704.2006/HĐBL, số 07/06/TCBL, số 86/05/TCBL vào tham gia tố tụng nhằm miễn mọi nghĩa vụ cho họ và buộc những người khác gánh vác nghĩa vụ thay theo kiểu thế mạng.

Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
LS. Lê Đình Việt

Tư vấn thủ tục kháng cáo

Tư vấn thủ tục kháng cáo – Bản án, quyết định dân sự, kinh doanh thương mại, lao động
1. Đối tượng kháng cáo:

  Đối tượng mà đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm bao gồm: bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

2. Người có quyền kháng cáo: (Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự)

– Đương sự, người đại diện hợp pháp của họ
– Cơ quan, tổ chức khởi kiện.
Cụ thể:
  a. Đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình là đương sự trong vụ án về tranh chấp có liên quan đến hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của đương sự có kháng cáo. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, đương sự đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  b. Đương sự được hướng dẫn tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này, nếu không tự mình kháng cáo, thì có thể uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo, trừ kháng cáo bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về ly hôn. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ của đương sự uỷ quyền kháng cáo và văn bản uỷ quyền. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  c. Đương sự là cơ quan, tổ chức có quyền kháng cáo. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

thủ tục kháng cáo

Tư vấn thủ tục kháng cáo

  Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức uỷ quyền cho người khác đại diện cho cơ quan, tổ chức kháng cáo, thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo; tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức uỷ quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn bản uỷ quyền. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  d. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên (trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này), người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo, thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền và văn bản uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
  e. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của BLTTDS là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ. Người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó; họ, tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ. Đồng thời, ở phần cuối đơn, người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
  f. Việc uỷ quyền được hướng dẫn tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản uỷ quyền đó được lập tại Toà án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án được Chánh án Toà án phân công. Trong văn bản uỷ quyền phải có nội dung đương sự uỷ quyền cho người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm.

3. Thời hạn kháng cáo: (Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự).

– Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
– Thời hạn kháng cáo quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
– Nếu đơn kháng cáo gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính là ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.
– Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng

4. Đơn kháng cáo: (Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự)

– Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
+ Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
+ Tên, địa chỉ của người kháng cáo;
+ Kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
+ Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;
+ Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
– Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm.
– Nếu đơn kháng cáo gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.
– Kèm theo đơn kháng cáo là tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

5. Mẫu đơn kháng cáo:

  Mẫu số 01 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
 ĐƠN KHÁNG CÁO
                                                                                                                                 ……, ngày….. tháng …… năm……

Kính gửi: Toà án nhân dân (1) ……………………………………………………………………….
Người kháng cáo: (2) …………………………………………………………………………………………….
Địa chỉ: (3) ………………………………………………………………………………………………………….
Là: (4) ……………………………………………………………………………………………………………..
Kháng cáo: (5)……..…………………………………………….…………….…………………………………..
Lý do của việc kháng cáo: (6)  ……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………..
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây: (7) …………………
…………………………….………………………………………………..………………
Những tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo gồm có: (8)
1……………………………………………………………….……………………
2………………………………………………………………..……………………
3……………………………………………………………….……………………

Người kháng cáo (9)
(Ký tên hoặc điểm chỉ)
Họ và tên

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 01:

  (1) Ghi tên Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án. Nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân huyện nào thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh ĐN); nếu là Toà án nhân dân cấp tỉnh, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội). Cần ghi địa chỉ cụ thể của Toà án (nếu đơn kháng cáo được gửi qua bưu điện).
  (2) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì ghi họ và tên của cá nhân đó; nếu người kháng cáo là cơ quan, tổ chức, thì ghi tên của cơ quan, tổ chức đó (ghi như đơn kháng cáo) và ghi họ và tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Người kháng cáo: Tổng công ty X do ông Nguyễn Văn A, Tổng giám đốc làm đại diện).
  (3) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì ghi đầy đủ địa chỉ nơi cư trú (ví dụ: Địa chỉ: trú tại thôn B, xã C, huyện H, tỉnh T); nếu là cơ quan, tổ chức, thì ghi địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Địa chỉ: có trụ sở tại số 20 phố NP, quận Đ, thành phố H).
  (4) Ghi tư cách pháp lý của người kháng cáo (ví dụ: là nguyên đơn (bị đơn) trong vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Trần Văn Nam trú tại nhà số 34 phố X, quận H, thành phố Y theo uỷ quyền ngày…tháng…năm…; là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty XNK A do ông Nguyễn Văn Nam – Tổng Giám đốc đại diện theo giấy uỷ quyền ngày…tháng…năm…).
  (5) Ghi cụ thể kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần nào của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đó (ví dụ: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2012/DS-ST ngày 15-01-2012 của Toà án nhân dân tỉnh H).
  (6) Ghi lý do cụ thể của việc kháng cáo.
  (7) Nêu cụ thể từng vấn đề mà người kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
  (8) Trường hợp có các tài liệu, chứng cứ bổ sung thì phải ghi đầy đủ tên các tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo (ví dụ: các tài liệu kèm theo đơn gồm có: 1) Bản sao Giấy xác nhận nợ; 2) Bản sao Giấy đòi nợ…).
  (9) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì phải ký tên hoặc điểm chỉ và ghi rõ họ và tên của người kháng cáo đó; nếu là cơ quan, tổ chức kháng cáo, thì người đại điện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức kháng cáo ký tên, ghi rõ họ và tên, chức vụ của mình và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
  (Ví dụ: Người kháng cáo
  Tổng Công ty X
  Tổng Giám đốc
  (Ký tên, đóng dấu)
  Nguyễn Mạnh T